Nam Quốc Sơn Hà ❤️️ Nội Dung Bài Thơ, Nghệ Thuật, Phân Tích

Nam Quốc Sơn Hà ❤️️ Nội Dung Bài Thơ, Nghệ Thuật, Phân Tích ✅ Mời Bạn Đọc Tham Khảo Hoàn Cảnh Sáng Tác, Ý Nghĩa Nhan Đề, Bố Cục.

Nội Dung Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà

Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà được xem như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước ta. Trải qua bao thế kỷ, bài thơ vẫn vẹn nguyên giá trị như ban đầu. Dưới đây là Nội Dung Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà, bạn có thể tham khảo.

Bản trong Đại Việt sử ký toàn thư như sau:

南國山河南帝居,
截然分定在天書。
如何逆虜來侵犯,
汝等行看取敗虚。

Nam quốc sơn hà (bản Phiên âm Hán-Việt)
Tác giả: Lý Thường Kiệt

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch nghĩa của Võ Minh Hải:

Sông núi nước Nam thì vua nước Nam cai quản
Rõ ràng đã được phân chia tại sách trời
Cớ làm sao bọn giặc ngỗ ngược kia đến đây xâm phạm
Rồi đây chúng bay sẽ thấy và nhận lấy sự thất bại hoàn toàn

Dịch thơ của Trần Trọng Kim:

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Xem thêm tác phẩm 🌿 Bạch Đằng Hải Khẩu 🌿 Nội Dung, Nghệ Thuật 

Về Tác Giả Lý Thường Kiệt

Về Tác Giả Lý Thường Kiệt, cho đến hiện nay vẫn chưa xác định được chính xác tác giả bài thơ Nam Quốc Sơn Hà là ai nhưng theo nhiều tài liệu để lại cho rằng Lý Thường Kiệt – một danh tướng nhà Lý là tác giả của bài thơ này.

  • Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là một danh tướng có công lớn trong việc đánh bại quân nhà Tống vào năm 1075 – 1077. Ông được cho là đã viết ra bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc “Nam Quốc Sơn Hà”.
  • Lý Thường Kiệt là một nhà quân sự, nhà chính trị thời nhà Lý nước Đại Việt. Ông là một trong 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam, là một nhà quân sự kiệt xuất của dân tộc.
  • Thuở nhỏ ông là người khôi ngô tuấn tú, thông minh, nhanh nhẹn, là con của võ tướng nên thích nghề võ và được dạy võ. Năm ông 23 tuổi được giữ chức Hoàng môn chi hậu, năm 43 tuổi ông đã dẹp yên ổn các châu huyện khắp miền Thanh – Nghệ.
  • Ông mất năm 1105, thọ 86 tuổi, được truy tặng Kiểm hiệu Thái úy bình chương quân quốc trọng sự, tước Việt Quốc Công. Từ đó tới nay đã có nhiều nơi lập đền thờ và dựng bia ghi công lao của ông, tiêu biểu trong đó có bài văn bia ở chùa Linh Xứng, Hà Trung – Thanh Hóa.

Về Tác Phẩm Nam Quốc Sơn Hà

Về Tác Phẩm Nam Quốc Sơn Hà, Nam quốc sơn hà (chữ Hán: 南國山河) là một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt viết bằng văn ngôn. Đây là bài thơ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta với ý nghĩa khẳng định chủ quyền của Đại Việt trên các vùng đất của mình.

Tiếng thơ vang khắp thiên hạ, làm cho quân thù nổi loạn, lòng dân Việt đắm chìm trong ngọn lửa yêu nước. Lý Thường Kiệt lúc bấy giờ không cần đứng trên đài tuyên ngôn mà vẫn có thể tuyên bố chủ quyền đất nước.

Bài thơ là tiếng nói yêu nước, tự hào dân tộc của nhân dân ta, thể hiện ý chí và sức mạnh Việt Nam. Nam Quốc Sơn Hà là khúc tráng ca chống ngoại xâm thể hiện khí phách, tự cường của đất nước và con người Việt Nam.

Chia sẻ thêm tác phẩm ❤️️Tiếng Mẹ Đẻ Nguồn Giải Phóng Các Dân Tộc Bị Áp Bức ❤️️ Nội Dung, Nghệ Thuật 

Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà

Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà như thế nào? Theo các tài liệu thì bài thơ này được ra đời trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống – Thời Lí.

Tương truyền trong giai đoạn sục sôi chiến đấu cùng giặc ngoại xâm, Lý Thường Kiệt đã sáng tác nên bài thơ này. Vào đêm khuya thanh vắng, ông đã ở trong đền thờ và cất giọng đọc bài thơ. Giọng hào hùng, hào khí chói lóa khiến quân giặc hoảng loạn. Về sau như lời bài thơ, quân và dân ta đã chiến thắng quân giặc.

Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà

Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà là gì? Thực chất, bài thơ này vốn không có tên, tên gọi Nam Quốc Sơn Hà là do những người biên soạn cuốn sách Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 2 (sách do Nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1976) đặt ra, lấy từ bốn chữ đầu trong câu thơ đầu tiên của bài thơ này (Nam quốc sơn hà Nam đế cư).

Nam quốc sơn hà có nghĩa là sông núi nước Nam, cái tên này thể hiện rõ hào khí của cha ông ta ngày xưa khi đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đây như một lời tuyên bố hùng hồn về chủ quyền đất nước, khiến cho quân xâm lược phải khiếp sợ.

Tìm hiểu và phân tích tác phẩm 🌷Về Luân Lí Xã Hội Ở Nước Ta 🌷 Nội dung, nghệ thuật

Bố Cục Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà

Bố Cục Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà được chia làm 2 phần như sau:

  • Phần 1 (Hai câu đầu): Khẳng định chủ quyền lãnh thổ đã được phân định rõ ràng.
  • Phần 2 (Hai câu cuối): Khẳng định sự quyết tâm chống lại kẻ thù.

Giá Trị Tác Phẩm Nam Quốc Sơn Hà

Cùng Thohay.vn đi vào tìm hiểu Giá Trị Tác Phẩm Nam Quốc Sơn Hà sau đây nhé!

Giá trị nội dung

  • Văn bản thể hiện niềm tin về sức mạnh của chính nghĩa và được xem là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên. Khẳng định chủ quyền về lãnh thổ của đất nước và nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền đó trước mọi kẻ thù xâm lược.
  • Tuy nhiên qua từng câu chữ, ta vẫn bắt gặp những dòng cảm xúc, tâm trạng của tác giả. Đó là 1 niềm tự hào, tự tin, nỗi tức giận.

Giá trị nghệ thuật

  • Thể thơ ngắn gọn,xúc tích.
  • Hình thức văn nghị luận với lập luận chặt chẽ
  • Lựa chọn ngôn ngữ, giọng hùng hồn, đanh thép, dõng dạc.

Chia sẻ cho bạn đọc 💚 Dục Thúy Sơn [Nguyễn Trãi] 💚 Sơ đồ tư duy, phân tích hay nhất

Dàn Ý Nam Quốc Sơn Hà

Chia sẻ cho các em học Dàn Ý Nam Quốc Sơn Hà mẫu dưới đây.

1. Mở bài

  • Dẫn dắt vấn đề: Trong lịch sử Việt Nam, ngoài bản Tuyên ngôn độc lập Bác Hồ đọc tại Quảng trường Ba Đình khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, chúng ta còn ghi nhận có hai văn bản khác cũng được coi là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc: Nam quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt) và Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi). 
  • Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Trong số hai văn bản đó, Nam quốc sơn hà (Lý Thường Kiệt) được coi là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên.

2. Thân bài

* Tuyên ngôn độc lập: Là văn bản chính luận được viết ra với mục đích tuyên bố với nhân dân cả nước và nhân dân thế giới về nền độc lập và chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ cần được tôn trọng.

* Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam): Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên:

– Lời tuyên bố hùng hồn về nền độc lập chủ quyền của đất nước: “Nam quốc… thiên thư” (Sông núi nước Nam… ở sách trời)

  • Việt Nam là một đất nước độc lập, có chủ quyền riêng, vua chính là đại diện tối cao cho dân tộc.
  • Ranh giới bờ cõi của nước Nam không chỉ được ghi nhận qua những trang sử hào hùng mà còn được ghi rõ ràng ở “thiên thư” (sách trời).

=> Chân lí hiển nhiên: Sông núi nước Nam là của vua Nam, là của người dân nước Nam.

  • Sử dụng từ “đế” mà không dùng chữ “vương”: Nâng tầm địa vị và tầm vóc của nước Nam. 

=> Thái độ tự hào, tự tôn dân tộc khi coi nước Nam là một nước ngang hàng với các nước phương Bắc, vua Nam bằng vai với hoàng đế Trung Quốc. 

– Ý chí quyết tâm bảo vệ đến cùng nền độc lập, chủ quyền ấy: “Như hà… bại hư” (Cớ sao lũ giặc… tơi bời)

  • “nghịch lỗ”: Chỉ giặc xâm lược (kẻ đi ngược lại với lẽ phải, với đạo trời)
  • Lời cảnh cáo đanh thép: Bọn giặc dám sang xâm phạm vào bờ cõi và chủ quyền của nước Nam thì sẽ chuốc lấy bại vong thảm hại.

=> Kết cục xứng đáng cho những kẻ phạm vào sách trời, phạm vào đấng linh thiêng, coi thường chân lí, lẽ phải.
=> Đòn tấn công mạnh mẽ giành cho kẻ thù xâm lược, vừa có ý nghĩa khích lệ tinh thần yêu nước, ý thức trách nhiệm của nhân dân với Tổ quốc.

3. Kết bài

  • Khẳng định giá trị của bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên Nam quốc sơn hà (Sông núi nước Nam).
  • Nêu suy nghĩ, đánh giá của bản thân về tác phẩm. 

Soạn Bài Nam Quốc Sơn Hà

Gợi ý cách Soạn Bài Nam Quốc Sơn Hà chi tiết theo các câu hỏi trong sách.

👉Câu 1: (trang 64 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Căn cứ vào lời giới thiệu sơ lược về thể thơ thất ngôn tứ tuyệt ở chú thích để nhận dạng thể thơ của bài Sông núi nước Nam về số câu, số chữ trong câu, cách hiệp vần.

Đáp án: Nguyên văn bài Nam quốc sơn hà là bài thơ chữ Hán được làm theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật:

  • Bốn câu, mỗi câu bảy chữ.
  • Vần ở chữ cuối câu 1, câu 2 và câu 3.

👉Câu 2: (trang 64 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Sông núi nước Nam được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta viết bằng thơ. Vậy thế nào là một tuyên ngôn độc lập? Nội dung tuyên ngôn độc lập trong bài thơ này là gì?

Đáp án:

  • Tuyên ngôn Độc lập là lời tuyên bố về quyền của một đất nước và khẳng định không một thế lực nào xâm phạm.
  • Bài thơ Sông núi nước Nam được xem là bản “Tuyên ngôn Độc lập” đầu tiên của dân tộc:
    • Khẳng định tuyệt đối với các quốc gia là nước Nam chúng ta có chủ quyền riêng biệt và có hoàng đế đứng đầu trị vì dân tộc.
    • Ranh giới lãnh thổ, địa phận nước Nam đã được ghi nhận rõ ràng ở “sách trời” mà không ai có thể chối cãi được.
    • Nêu cao sự quyết tâm bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, kẻ thù nào tới xâm phạm sẽ bị đánh cho tơi bời.

👉Câu 3: (trang 64 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Sông núi nước Nam là một bài thơ thiên về sự biểu ý (bày tỏ ý kiến). Nội dung biểu ý đó đã được tác giả thể hiện theo bố cục như thế nào và nhận xét về điều đó.

Đáp án:

– Hai câu đầu: Khẳng định tuyệt đối chủ quyền toàn vẹn, sự độc lập, tự chủ của dân tộc:

  • Nước Nam hoàn toàn có lãnh thổ riêng, đất Nam đã có vua Nam ở
  • Phân giới lãnh thổ của người Nam đã được quy định rành rành ở sách trời, điều này đã là chân lý không thể chối cãi được

– Hai câu cuối: Khẳng định quyết tâm đứng lên bảo vệ dân tộc trước kẻ thù

  • Tác giả đã khẳng khái chỉ rõ những kẻ đem quân xâm lược nước ta là đang làm trái đạo làm người và trái cả đạo trời
  • Đưa ra sự cảnh báo đanh thép đến bọn xâm lăng rằng chúng sẽ bị tan tác trước quân và dân ta.

   – Nhận xét: Bố cục được sắp xếp logic và chặt chẽ, chủ quyền được nêu trước, sau đó là biểu ý quyết tâm để bảo vệ chủ quyền.

👉Câu 4: (trang 64 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Ngoài biểu ý thì Sông núi nước Nam có biểu cảm không và nếu có thì thuộc trạng thái nào? Giải thích sự lựa chọn đó?

Đáp án: Nghĩa biểu cảm của bài thơ Nam quốc sơn hà:

  • Sự khẳng định hùng hồn, cảm xúc đầy mãnh liệt, tinh thần mạnh mẽ, sắt đá, ý chí quyết tâm, không gì có thể khuất phục nổi.
  • Cảm xúc cùng ý chí ấy được tác giả bộc lộ kín đáo qua ngôn ngữ và hình tượng

👉Câu 5 (trang 64 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Qua các cụm từ “tiệt nhiên”, “hành khan thủ bại hư”,”định phận tại thiên thư”, nhận xét về giọng điệu bài thơ?

Đáp án: Bài thơ có giọng điệu đanh thép, hùng hồn:

  • Khẳng định chủ quyền thông qua “thiên thư” sách trời có nghĩa là chân lý không thể phủ nhận được.
  • Cảnh cáo bọn giặc khi gây ra tội ác chắc chắn sẽ phải chuốc bại vong.

Mời bạn tham khảo các mẫu phân tích🔻 Một Thời Đại Trong Thi Ca 🔻 Hay nhất

Giáo Án Nam Quốc Sơn Hà

Chia sẻ với các giáo viên Giáo Án Nam Quốc Sơn Hà chi tiết nhất.

I. Mục tiêu bài học

1. Kiến thức:

  • Cảm nhận được tinh thần độc lập khí phách hào hùng, khát vọng lớn lao của dân tộc trong bài thơ.
  • Bước đầu hiểu đặc điểm thể thơ: Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.

2. Kĩ năng: Đọc, tìm hiểu các thể thơ Đường luật.

3. Thái độ: Bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc, ý thức học tập tốt để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

II. Chuẩn bị tài liệu

1. Chuẩn bị của Giáo viên: Soạn bài, SGK, SGV,Tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng, các tài liêu: kiến thức cơ bản và bài tập nâng cao.

2. Chuẩn bị của học sinh: Chuẩn bị bài,tư liệu liên quan đến bài học,xem trước bài.

III. Tiến trình tổ chức dạy học

1. Ổn định tổ chức: Kiểm tra sĩ số:

2. Kiểm tra đầu giờ: Kiểm tra sự chuẩn bài của HS

3. Bài mới

Hoạt động của GV và HSKiến thức cần đạt
HĐ1: HD đọc và tìm hiểu chú thích:
– GV nêu yêu cầu đọc: Giọng chậm, chắc, hào hứng, đanh thép.
GV: Cho học sinh đọc chú thích
I. Đọc và tìm hiểu chú thích.
1. Đọc:
H: Trình bày những hiểu biết của em về tác giả, tác phẩm ?2. Tìm hiểu chú thích:
a. Tác giả: Chưa rõ.
– Tác phẩm:
+ Sáng tác trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ 2 (1077), đọc ở miếu thần trên phòng tuyến Như Nguyệt ( nam sông Cầu).
+ Động viên tinh thần tướng sĩ và làm quân địch hoang mang, khiếp sợ.
+ Được coi là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của dân tộc ta.
– GV dựa vào chú thích (*) nói cho học sinh hiểu về thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật và cho HS nhận dạng bài “Nam quốc sơn hà”b. Giải nghĩa từ khó:
– Theo 2 chú thích SGK( vua Nam, sách trời)
– Chú ý: đế, tiệt nhiên, thiên thư, nghịch lỗ, thủ bại hư.
HĐ2. HD đọc hiểu văn bản
H: Xác định thể loại và phương thức biểu đạt ?H: Hãy nêu chủ đề của bài thơ?
– Là lời tuyên bố của chủ quyền đất nước ta
– Được coi như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của đất nước ta
II. Đọc- hiểu văn bản:
1. Kiểu văn bản: Biểu cảm
– Thể loại:Thơ thất ngôn tứ tuyệt (Đường luật).
– Số câu : 4 câu
– Số chữ trong câu: 7 chữ / 1 câu
– Cách hiệp vần:
+ Vần chân: Câu 1,2,4 (hoặc câu 2,4) hiệp vần với nhau ở chữ cuối.
VD: C1 – cư ; C2 : thư ; C4: hư
+ Vần liền: cuối câu 1,2: cư – thư
+ Vần cách: chữ cuối câu 2,4: thư – hư.
+ Bài gieo vần trắc (tính từ tiếng thứ 2 trong câu thứ nhất)
H: Chia bố cục bài thơ nêu nội dung từng ?2. Bố cục: 2 phần :
– Hai câu đầu: Nước Nam là của người Nam.Điều đó đã được sách trời định sẵn, rõ ràng.
– Hai câu cuối: Kẻ thù không được xâm phạm, nếu xâm phạm sẽ chuốc lấy bại vong.
– HS đọc bản phiên âm chữ Hán, bản dịch nghĩa, dịch thơ và trả lời câu hỏi
H: Em có nhận xét gì về giọng điệu của hai câu thơ đầu?
3. Phân tích:
a. Hai câu đầu:
– Giọng thơ: Hùng hồn, rắn chắc, trang trọng và đầy tự hào
H: Trong câu thơ đầu tiên theo em có những chữ nào là quan trọng nhất? Vì sao?
H: Trong câu thơ đầu tiên theo em có những chữ nào là quan trọng nhất? Vì sao?
Chú ý: đế: vua+vương: vua
-> “Đế” được coi lớn hơn” vương”
* Câu 1: Nam quốc: nước Nam ->Vùng sông núi phía Nam là một nước chứ không phải một quận huyện của Trung Hoa-> Khẳng định ý thức độc lập chủ quyền của một dân tộc.
– Đế: chữ quan trọng nhất -> Chứng tỏ nước Nam là có vua, có chủ, có quốc chủ. Đế còn có nghĩa đại diện cho nhân dân. Nam đế là vua đại diện cho nhân dân nước Nam.
H: Từ đó, lời thơ Nam đế cư có ý xác định nơi ở của vua nước Nam; hay nơi thuộc chủ quyền của nước Việt Nam?– Nam đế cư: Nơi ở của vua nước Nam, xử lí mọi công việc của nước Nam là vua nước Nam. Nơi thuộc chủ quyền của người Việt vì vua gắn với nước.
H:Ý thức dân tộc đã được thể hiện rõ trong câu thơ ntn?=> Ý thức độc lập, tự cường; bình đẳng, ngang hàng với các hoàng đế Trung Hoa.
H: Em hiểu thiên thư là gì?H: Nhận xét về âm điệu đặc biệt của lời thơ này? Tác dụng?* Câu 2:
– Âm điệu: Hùng hồn, rắn rỏi diễn tả sự vững vàng của tư tưởng và niềm tin sắt đá vào chân lí.
H: Chân lí về chủ quyền đất nước Việt Nam đã được ghi ở sách trời điều đó có ý nghĩa gì?– Khẳng định ranh giới nước Nam đã được phân định rõ ràng hợp với đạo trời – đất, thuận với lòng người. Tạo hoá đã định sẵn nước Việt Nam của người Việt Nam.
H:Câu thơ thứ hai khẳng định rõ điều gì?=> Khẳng định nước Nam là một nước có độc lập, có chủ quyền, có lãnh thổ riêng. Đó là một sự thật hiển nhiên, không thể thay đổi.
H:Em có nhận xét gì về giọng điệu của hai câu thơ cuối?b. Hai câu cuối:
– Giọng điệu: Vừa thách thức vừa quả quyết
H: Nội dung câu thơ thứ 3?Câu hỏi nhưng có phải để hỏi k? Mục đích?* Câu 3:
+ Là câu hỏi, hướng về bọn giặc ngông cuồng.
+ Là lời cảnh báo về hành động xâm lược liều lĩnh, phi nghĩa, vô đạo lý của phong kiến phương Bắc.
H: Nội dung câu 4?*Câu 4: Lời cảnh báo hậu quả thê thảm đối với bọn xâm lăng nếu như cố tình xâm phạm đến nước Nam và k/đ sức mạnh vô địch của quân và dân ta
H: Thái độ của người viết thể hiện như thế nào ở hai câu cuối?
H: Những tư tưởng nào của người viết được thể hiện ở hai câu cuối?
H:Liên hệ với lịch sử dân tộc, hãy chứng minh sự chính xác của lời tuyên ngôn chiến thắng này?
( Quân và dân nhà Lý dưới sự chỉ huy của Lý thường Kiệt đã đánh tan đạo quân xâm lược Tống, bảo vệ bờ cõi nước ta)
-> Hai câu cuối là lời cảnh báo đanh thép, kiên quyết thể hiện ý chí quyết chiến, quyết thắng để giữ vừng nền độc lập, tự do của Tổ quốc
– Khẳng định vững chắc chủ quyền độc lập và bình đẳng của dân tộc ta
– Khẳng định quyết tâm sắt đá: sẽ đập tan mọi âm mưu, hành động liều lĩnh của bất kì kẻ xâm lược ngông cuồng nào, cho dù chúng tàn bạo, nham hiểm và mạnh đến đâu.
H: Vì sao bài thơ lại được coi như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta?
H: Từ quá trình phân tích trên hãy chỉ ra giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ?
– HS đọc mục ghi nhớ: SGK
4. Tổng kết
a.Nghệ thuật: Cảm xúc, thái độ mãnh liệt, sắt đá:
– Bài thơ mang màu sắc chính luận sâu sắc.
– ý thơ được thể hiện trực tiếp, mạch lạc, rõ ràng.
– Giọng thơ hùng hồn, đanh thép, gọn sắc, cô đọng
b. Nội dung:
Sông núi nước Nam là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên khẳng định chủ quyền về lãnh thổ của đất nước và nêu cao ý chí quyết tâm bảo vệ chủ quyền đó trước mọi kẻ thù xâm lược.
* Ghi nhớ: SGK/65

4. Củng cố, luyện tập: Học sinh thuộc lòng bài thơ cả phần âm và phần dịch thơ

  • Bài tập 1 SGK. ( quan niệm xưa đất nước là của vua…)
  • Ngoài bài Nam quốc sơn hà, em còn biết những văn bản nào khác được coi là tuyên ngôn độc lập của nước ta? Hãy kể tên?

5. Hướng dẫn về nhà

  • Nắm được kiến thức bài học. Sưu tầm các bài thơ cùng thời.
  • Chuẩn bị bài: Phò giá về kinh.

Sơ Đồ Tư Duy Nam Quốc Sơn Hà

Các em học sinh có thể dựa vào Sơ Đồ Tư Duy Nam Quốc Sơn Hà sau đây để nắm bắt bài học nhanh hơn.

Sơ Đồ Tư Duy Nam Quốc Sơn Hà Chi Tiết
Sơ Đồ Tư Duy Nam Quốc Sơn Hà Chi Tiết
Sơ Đồ Tư Duy Sông núi nước Nam
Sơ Đồ Tư Duy Sông núi nước Nam
Sơ Đồ Tư Duy Nam Quốc Sơn Hà Hay
Sơ Đồ Tư Duy Nam Quốc Sơn Hà Hay
SĐTD Nam Quốc Sơn Hà
SĐTD Nam Quốc Sơn Hà
Sơ Đồ Tư Duy Nam Quốc Sơn Hà
Sơ Đồ Tư Duy Nam Quốc Sơn Hà

Đừng bỏ lỡ tác phẩm 💌 Người Cầm Quyền Khôi Phục Uy Quyền 💌 Nội Dung, Nghệ Thuật, Phân Tích

5 Mẫu Phân Tích Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà Hay Nhất

Chia sẻ ngay 5 Mẫu Phân Tích Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà Hay Nhất sau đây.

Mẫu Phân Tích Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà Sâu Sắc – Mẫu 1

Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ đanh thép, căm giận, hùng hồn, vừa mang sứ mệnh lịch sử như một bài hịch cứu nước, vừa mang ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của nước Đại Việt.

Bài thơ là tiếng nói yêu nước và niềm tự hào dân tộc của nhân dân ta, thể hiện ý chí và sức mạnh Việt Nam. Nam quốc sơn hà là khúc tráng ca chống xâm lăng biểu lộ khí phách và ý chí tự lực tự cường của đất nước và con người Việt Nam.

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư.

Câu thơ đầu tiên mang ngôn ngữ trang trọng, ý thơ mạnh mẽ, đanh thép, khẳng định một chân lí lịch sử bất di bất dịch: “Sông núi nước Nam” là nơi phải do người Nam cai quản.

Trong đó đáng lưu ý ở chữ “đế” chứ không phải chữ “vương”. “Đế” là Hoàng Đế Trung Hoa – thiên tử độc nhất trong thiên hạ; còn “Vương” là vua các nước chư hầu – tức bầy tôi của “Đế” và do Hoàng Đế Trung Hoa phong cho hay chấp nhận.

Vì vậy, dùng chữ “đế” mà không dùng chữ “vương” ở câu thơ thứ nhất trong bài thơ cho thấy thái độ ngang hàng trong ý thức về dân tộc của người Việt luôn được xác định rõ ràng. Đó là tư thế bình đẳng, ngang hàng, tư tưởng độc lập về chính trị giữa hai quốc gia. Bởi đây là một dân tộc độc lập, tự cường, không phụ thuộc vào quốc gia nào khác.

Câu thơ thứ hai như một lời khẳng định chủ quyền về ranh giới, bờ cõi nước Nam được phân chia rõ ràng ở sách trời, được trời đất công nhận. Việc sử dụng ý niệm về đấng tối cao, có màu sắc thần linh khiến câu thơ thêm phần kì ảo và càng khẳng định sâu sắc hơn về chủ quyền dân tộc: Đất nước Nam được hình thành và có bờ cõi rõ ràng là hợp với ý trời, và đó là chân lí bất di bất dịch.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Câu thơ thư ba vừa bộc lộ bản chất phi nghĩa, vô đạo lí của bọn phong kiến phương Bắc đã bao đời  cậy thế mạnh,. Lí Thường Kiệt nghiêm khắc lên án hành động ăn cướp trắng trợn của giặc Tống cậy lớn làm càn luôn lăm le đô hộ nước ta. Câu thơ còn vừa còn là một câu dùng để hỏi, một câu dùng để khẳng định, tỏ thái độ rõ ràng, quyết liệt: coi kẻ xâm lược là ” nghịch lỗ”, những kẻ làm trái đạo trời thì chắc chắn sẽ bị trừng phạt. 

Câu thơ cuối như náo trước một cái kết cục xứng đáng cho những kẻ phạm vào sách trời, phạm vào đấng linh thiêng, coi thường chân lý, lẽ phải! Câu thơ vừa là một đòn tấn công mạnh mẽ giành cho kẻ thù xâm lược vừa có ý nghĩa  Khẳng định niềm tin, ý chí quyết tâm chiến thắng kẻ thù bảo vệ Tổ quốc ,bảo vệ độc lập dân tộc. và khích lệ tinh thần yêu nước, ý thức trách nhiệm của nhân dân với Tổ quốc. 

Hai câu thơ cuối chính là Lời cảnh báo đanh thép, kiên quyết không phải lời đe doạ suông mà tựa chắc trên cơ sở bao lần chiến thắng giặc phương Bắc từ đầu Công nguyên đến lúc bấy giờ. Đó chính là lời tiên tri chắc nịch thể hiện ý chí quyết chiến, quyết thắng để giữ vững nền độc lập tự do, tự chủ của Đại Việt mà bao đời nay, bao thế hệ người Việt đã đổ xương máu, hi sinh mới giành được.

Bài thơ như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam và được coi như bài thơ thần vì đó là sự khẳng định vững chắc quyền tồn tại độc lập và bình đẳng của non sông nam quốc. Đó cũng là quyết tâm sắt đá của vua tôi Đại Việt nhất định sẽ đập tan mọi âm mưu và hành động liều lĩnh, ngông cuồng của bất cứ bọn xâm lược nào dù chúng mạnh và nham hiểm đến đâu.

Mẫu Phân Tích Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà Hay – Mẫu 2

Chủ quyền dân tộc luôn là một vấn đề nóng bỏng không chỉ của thời điểm hiện tại mà ngay cả trong những ngày quá khứ xa xưa. “Sông núi nước Nam” có thể coi là bản tuyên ngôn về độc lập, chủ quyền đầu tiên của dân tộc ta. Bài thơ thể hiện ý chí kiên cường và quyết tâm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của ông cha.

Về xuất xứ của bài “Sông núi nước Nam” có rất nhiều ghi chép khác nhau, nhưng chúng đều có điểm chung đó là: bài thơ ra đời gắn liền với cuộc kháng chiến chống quân xâm lược của dân tộc. Vì có nhiều giả thuyết khác nhau về sự ra đời của tác phẩm nên bài thơ thường được để khuyết danh. “Sông núi nước Nam” có thể coi là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc, mang hai nội dung lớn: Khẳng định độc lập dân tộc và ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập đó.

Hai câu đầu khẳng định độc lập dân tộc trên cơ sở cương vực lãnh thổ và chủ quyền:

“Nam quốc sơn hà nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”

Trước hết về chủ quyền, Đại Việt là đất nước có chủ quyền riêng, điều này được thể hiện rõ qua cụm từ “Nam đế cư”. Trong phần dịch thơ được dịch là “vua Nam ở”. Ở đây chúng ta cần có sự phân biệt rạch ròi giữa đế và vua, vì đây là hai khái niệm rất khác nhau.

“Đế” là duy nhất, toàn quyền, có quyền lực cao nhất; “Vua” thì có nhiều, phụ thuộc vào đế, quyền lực xếp sau đế. Bởi vậy, khi sử dụng chữ đế trong bài đã khẳng định mạnh mẽ quyền của vua Nam với nước Nam, đồng thời khi sử dụng “Nam đế” thì mới sánh ngang hàng với “Bắc đế”, độc lập và không phụ thuộc vào Bắc đế.

Về cương vực lãnh thổ, nước ta có cương vực riêng đã được quy định ở sách trời. Căn cứ vào thiên thư nước ta nằm ở phía nam núi Ngũ Lĩnh thuộc địa phận sao Dực và sao Chẩn. Dựa vào sách trời để khẳng định chủ quyền của đất nước rất phù hợp với tâm lý, niềm tin của con người ngày xưa (tin vào số phận, mệnh trời) bởi vậy càng có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn. Đồng thời sách trời ở đây cũng tương ứng với chân lí khách quan, qua đó tác giả cũng ngầm khẳng định sự độc lập của đất nước ta là chân lý khách quan chứ không phải ý muốn chủ quan.

Hai câu sau khẳng định quyết tâm bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân ta. Trong hai câu thơ này tác giả sử dụng những từ ngữ mang ý nghĩa kinh miệt “nghịch lỗ” – lũ giặc làm điều trái ngược, để gọi những kẻ đi xâm lược. Ngoài ra để vạch trần tính chất phi nghĩa cuộc chiến tranh, tác giả còn đưa ra hình thức câu hỏi “như hà” (cớ sao). Bởi điều chúng làm là phi nghĩa, đi ngược lại chân lý khách quan nên tất yếu sẽ chuốc lại bại vong. Câu thơ cuối vừa có tính chất khẳng định, vừa như là lời răn đe, cảnh báo trước hành động xâm lược của chúng: các người sẽ chuốc lấy bại vong hoàn toàn khi xâm lược Đại Việt.

Bài thơ sử dụng thể thơ thất ngôn tứ tuyệt hàm súc và cô đọng. Tác phẩm chỉ có hai mươi tám chữ nhưng lại ẩn chứa những tư tưởng và tình cảm lớn: khẳng định độc lập chủ quyền dân tộc và nêu lên quyết tâm chiến đấu bảo vệ nền độc lập đó. Ngôn từ cô đọng, giàu sức gợi cảm: nam đế cư, nghịch lỗ, như hà… Kết hợp hài hòa giữa biểu cảm và biểu ý: bài thơ thiên về nghị luận trình bày nhưng ẩn sâu bên trong là những tư tưởng, tình cảm, cảm xúc của tác giả. Giọng thơ trang trọng, hào hùng, đầy tự tin.

Bài thơ ngắn gọn, hàm súc mà chưa đựng những tư tưởng tình cảm lớn lao, cao đẹp. Văn bản là bản tuyên ngôn đầu tiên của dân tộc ta về độc lập, chủ quyền của đất nước. Tác phẩm đã tạo niềm tin, sức mạnh chính nghĩa cho nhân dân ta trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc.

Mẫu Phân Tích Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà Ý Nghĩa – Mẫu 3

Bài thơ “Sông núi nước Nam” có tên chữ Hán là “Nam quốc sơn hà” được tương truyền là do Lý Thường Kiệt sáng tác. Bài thơ góp phần làm nên chiến thắng của quân Tống trên dòng sông Như Nguyệt. Đây được coi là bản “Tuyên ngôn độc lập” đầu tiên trong ba bản tuyên ngôn của nước ta.

Bài thơ được làm theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Hình thức và nội dung là sự kết hợp hài hòa trong một kết cấu hoàn chỉnh của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Bài thơ chính là lời khẳng định quyền độc lập của dân tộc, chủ quyền của đất nước và thể hiện quyết tâm của toàn dân tộc trong việc bảo vệ nền độc lập dân tộc.

Hai câu đầu khẳng định điều mà sách trời đã ghi rõ:

“Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở”

Câu thơ tưởng chừng như đơn giản nhưng chứa đựng một lời tuyên bố hùng hồn. Đơn giản vì sông núi nước Nam vua Nam ở, không có gì phải bàn cãi. Vậy mà lâu nay các thế lực phong kiến phương Bắc không nhìn thấy chân lý ấy. Từ trước Công nguyên, các thế lực phong kiến Trung Hoa đã đem quân xâm chiếm nước ta, coi nước ta như một vùng đất vô chủ.

Lý Thường Kiệt đã đem “Nam đế” đặt ngang hàng với “Bắc đế” trong hai câu thơ trên. Đó chính là giá trị của câu thơ. Sự tồn tại của đất nước Đại Việt thuộc quyền sở hữu của vua Việt là điều hiển nhiên và đã được sách trời ghi rõ. Câu thơ dùng hai chữ “Nam” đã làm nổi bật danh hiệu Đại Việt và tư thế độc lập của dân tộc. Với cách diễn đạt thật cô đọng, hùng hồn, tác giả đã tuyên bố một chân lý không thể thay đổi: “Sông núi nước Nam vua Nam ở”.

Câu thơ thứ hai trong bài thơ giúp khẳng định thêm chân lý đã xuất hiện trong câu thứ nhất. Tác giả đã khéo sử dụng từ trời trong câu thơ. Tư tưởng phương Đông nói chung đề cao mệnh của ý trời còn cao hơn cả lệnh vua, vua cũng phải tuân theo mệnh trời. Chủ quyền của Đại Việt được sách trời ghi thì không ai có thể thay đổi được. Điều này đã khẳng định chắc chắn chủ quyền của Đại Việt trước các thế lực xâm lược.

Từ sự khẳng định chủ quyền của đất nước, tác giả đã tố cáo hành động xâm lược của kẻ thù, đồng thời khẳng định ý chí vì độc lập dân tộc, vì chủ quyền đất nước của nhân dân Đại Việt.

“Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ”

Câu thơ được diễn đạt theo lối nghi vấn nhưng thực chất là để khẳng định tính chất phi nghĩa trong việc xâm lược của quân Tống. Tiếp đến, tác giả khẳng định thất bại tất yếu của những kẻ đi xâm lược: “Chúng mày nhất định phải tan vỡ”.

Câu thơ cuối cùng thể hiện một niềm tin tất thắng vào tính chính nghĩa của nhân dân ta, điều này dựa trên cơ sở của lòng yêu nước nồng nàn, của tinh thần vì độc lập dân tộc và truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

Mẫu Phân Tích Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà Ngắn Hay – Mẫu 4

“Nam quốc sơn hà” được coi là “bài thơ thần”, bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên  – bởi những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật.

Theo nghiên cứu hiện nay có nhiều lời kể về sự ra đời của bài thơ. Nhưng nổi tiếng nhất phải kể đến truyền thuyết: Năm 1077, quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy sang xâm lược nước ta. Vua Lý Nhân Tông sai Lý Thường Kiệt đem quân chặn giặc ở phòng tuyến sông Như Nguyệt. Bỗng một đêm, quan sĩ nghe từ trong đền thờ hai anh em Trương Hống và Trương Hát (hai vị tướng đánh giặc giỏi của Triệu Quang Phục được tôn là thần sông Như Nguyệt) có giọng ngâm bài thơ này.

Hai câu thơ đầu là lời khẳng định chủ quyền quốc gia, lãnh thổ:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”

Quan niệm của người xưa cho rằng vua là “thiên tử” (con trời). Mọi vật thuộc về quốc gia như đất đai, nhà cửa, của cải… tất thảy đều thuộc về vua. Người có quyền quyết định sinh tử của con người cũng chính là vua. Vì vậy lời khẳng định: Sông núi nước Nam do vua Nam ở là hoàn toàn có cơ sở.

Nhưng đặc biệt nhất là cụm từ “Nam đế cư” – hoàng đế nước Nam. Đây vốn là từ dùng để chỉ người đứng đầu của một nước lớn. Việc sử dụng từ trên cho thấy niềm tự tôn dân tộc – Nước Nam cũng là một nước lớn – độc lập về chủ quyền và lãnh thổ. Nếu như thay bằng cụm từ “Nam nhân cư” – người Nam ở sẽ làm mất đi ý nghĩa về lòng tự tôn dân tộc. Không chỉ vậy, người viết còn đưa ra một chân lý không ai có thể chối cãi: “Vành vạch sách trời chia xứ sở”.

Chủ quyền lãnh thổ của đất nước ta đã được ghi rõ ở “thiên thư” – sách trời. Nó vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị pháp lý. Điều này khẳng định chủ quyền lãnh thổ của dân tộc ta là một chân lý không thể chối cãi và thay đổi được như trong “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi từng viết:

“Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác;
Từ, Triệu, Đinh, Lý, Trần, bao đời gây nền độc lập;
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên hùng cứ một phương…”

Hai câu thơ cuối, người viết đã nêu cao quyết tâm bảo vệ chủ quyền của lãnh thổ quốc gia:

“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

Câu hỏi tu từ đưa ra như một lời chất vấn: “Giặc giữ cớ sao xâm phạm đến đây?” nhằm khẳng định lại một lần nữa chủ quyền quốc gia dân tộc. Cũng như lời cảnh báo rằng những kẻ đi xâm lược đất nước của dân tộc khác đều là đang làm trái với ý trời. Để rồi cuối cùng chúng sẽ phải chịu một kết cục hết sức bi thảm. Kẻ đi cướp nước cuối cùng rồi cũng sẽ bị “đánh cho tơi bời”.

Chiến thắng luôn thuộc về phe chính nghĩa. Với thể thơ thất ngôn tứ tuyệt ngắn gọn hàm súc, giọng thơ đanh thép, hình ảnh mang tính biểu tượng cao, “Sông núi nước Nam” đã thể hiện được ý nghĩa nội dung vô cùng sâu sắc.

Tóm lại, có thể thấy “Sông núi nước Nam” xứng đáng là bản “Tuyên ngôn độc lập” đầu tiên của dân tộc. Bài thơ không chỉ để lại những giá trị về tư tưởng mà còn là giá trị về nghệ thuật.

Mẫu Phân Tích Bài Thơ Nam Quốc Sơn Hà Chọn Lọc – Mẫu 5

Cuối năm 1076, quân Tống kéo sang xâm lược nước ta. Dưới quyền thống lĩnh của Thái uý Lí Thường Kiệt, quân Nam chặn giặc tại phòng tuyến sông Cầu, và đến tháng 3 năm 1077, đánh tan quân giặc. Truyền thuyết kể rằng, để khích lệ ý chí chiến đấu của quân ta và làm tan rã tinh thần quân giặc, Lí Thường Kiệt cho đọc bài thơ sau đây giữa đêm khuya trên bờ sông cầu.

Mở đầu là câu thơ khẳng định quyền độc lập tự chủ của dân tộc:

“Nam quốc sơn hà Nam đế cư”
(Sông núi nước Nam, vua Nam ở)

Nam quốc là nước Nam, xưng là quốc để xóa sạch ấn tượng bị trị trong thời kì Bắc thuộc. Từ thế kỉ X, Ngô Quyền đã đánh đuổi quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, thiết lập một nhà nước độc lập, tự chủ, nhưng bọn phong kiến phương Bắc vẫn xem đất nước ta là một quận, huyện thuộc Trung Quốc, như đã sắc phong Đinh Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ quận vương. Cho nên vào. thời Lí, việc xưng Nam quốc, Nam đế có ý nghĩa lịch sử đặc biệt.

Câu thơ nhấn mạnh một chân lí đơn giản, hiển nhiên nhưng đầy chiều sâu lịch sử sau mười thế kỉ đấu tranh của dân tộc ta, thể hiện tinh thần độc lập tự chủ, tinh thần bình đẳng dân tộc.

“Tiệt nhiên định phận tại thiên thư”
(Biên giới rõ ràng có ghi tại sách trời)

Tiệt nhiên là rành rành, có đạo lí chính đáng không thể di dịch được; định phận là danh phận đã được xếp đặt, không thể xáo trộn được. Chủ quyền của vua Nam trên đất nước là việc có ghi sẵn trong sách trời. Thiên thư định phận cho nước Nam có bờ cõi riêng, đó là điều tuyệt nhiên, là chân lý hiển nhiên.

Nếu câu thơ đầu nhấn mạnh chân lí do con người quy định, thì câu thứ hai mang tính chất thần linh chủ nghĩa, một niềm tin gần như tuyệt đối trong thời phong kiến, ý thơ như báo trước thế thắng bại giữa ta và địch. Ta sẽ thắng chẳng những do tài sức chính mình, mà còn do ý trời. Địch sẽ bại vì hành động phi nghĩa của chúng.

Chân lí Nam quốc sơn hà được củng cố thêm bằng sức mạnh siêu nhiên thiên thư định phận, nhằm khẳng định niềm tin chiến thắng của ta.

Bài thơ là quyết tâm bảo vệ đất nước, khẳng định thất bại tất yếu của địch:

“Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?”
(Sao mà bọn giặc lại tới xâm phạm?)

Như hà là làm sao, nghịch là trái ngược, lỗ là bọn mọi rợ. Đây là một câu hỏi bao hàm thái độ vừa ngạc nhiên, vừa khinh bỉ. Ngạc nhiên vì chúng tự xưng là thiên triều sao lại làm trái mệnh trời; khinh bỉ vì chúng tự phụ là một nước có văn hiến hàng đầu, là Trung Hoa, tinh hoa của mọi dân tộc, sao lại hành động như kẻ mọi rợ, ỷ mạnh hiếp yếu.

Tư thế của ta vững vàng: Ta giữ gìn biên cương, bảo vệ đất nước với đầy đủ danh phận, rõ ràng chính nghĩa. Chúng là giặc, làm trái lòng trời, làm điều càng rõ phản nghịch. Giọng thơ hùng hồn, lời thơ dõng dạc tố cáo dã tâm của giặc, vừa sỉ vả, miệt thị bọn xâm lược với tư thế kẻ bề trên nắm lẽ phải trong tay, mắng bọn ngu xuẩn, tham lam đáng khinh miệt.

“Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”
(Lũ bây hãy xem sẽ ôm lấy thất bại, hư hỏng)

Nhữ đẳng là cùng một lũ bây, khan tức khán là xem, thủ là nhận lấy, bại là hỏng, thua, hư là trông không, không vào đâu cả. Câu thơ là câu trả lời, nhưng không trả lời trực tiếp mà báo trước cho chúng biết số phận thua trận tan tành không manh giáp của chúng.

Câu thơ cuối cùng nối tiếp mạch thơ của ba câu trên. Không thông được chân lí của nhân gian, cũng không hiểu thiên lí của trời đất, dẫn quân xâm lăng nước người, chúng bay rồi chống mắt xem sự bại vong, tan tác một cách nhục nhã.

Bài thơ khẳng định quyền độc lập, tự chủ của dân tộc ta từ nghìn năm trước. Quyền độc lập, tự chủ này được phát triển cụ thể trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi (Mỗi bên hùng cứ một phương…), và trong Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập…)

Truyền thống lịch sử ấy xác định một chân lí: dân tộc ta luôn luôn chống ngoại xâm để bảo vệ độc lập, tự chủ trên tư thế chính nghĩa. Bọn phong kiến phương Bắc đã mười lăm lần xâm lược nước ta, gần đây là thực dân Pháp rồi đế quốc Mĩ, nhưng cuối cùng chúng cũng thất bại, bị đánh đuổi ra khỏi bờ cõi. Quả thật tinh thần quật khởi chống xâm lược ấy được phát huy từ tinh thần Nam quốc sơn hà Nam đế cư vậy.

Sưu tầm các bài phân tích tác phẩm 💚 Tinh Thần Thể Dục [Nguyễn Công Hoan] 💚 Ý nghĩa nhất

Viết một bình luận