Tuyển Tập 40+ Bài Thơ Tiếng Hàn Ngắn Hay Nhất… Chùm Thơ Hàn Quốc Nổi Tiếng Về Tình Yêu, Cuộc Sống, Thiên Nhiên, Mùa Thu…
NỘI DUNG CHÍNH
Thơ Tiếng Hàn có gì đặc biệt ?
Thơ tiếng Hàn có nhiều đặc điểm độc đáo và phong phú, phản ánh văn hóa và lịch sử của Hàn Quốc. Dưới đây là một số điểm nổi bật:
Hyangga (향가):
Đây là thể thơ cổ điển của Hàn Quốc, xuất hiện từ thời kỳ Silla (57 TCN – 935 SCN).
Hyangga thường có cấu trúc 4, 8 hoặc 10 dòng, với nội dung phong phú về tình yêu, thiên nhiên và tôn giáo.
Sijo (시조):
Sijo là thể thơ truyền thống phổ biến nhất, xuất hiện từ thời kỳ Goryeo (918-1392) và phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ Joseon (1392-1897).
Mỗi bài thơ Sijo gồm ba dòng, mỗi dòng có 14-16 âm tiết, với nhịp điệu và vần điệu rõ ràng.
Gasa (가사):
Gasa là thể thơ tự do hơn, thường dài hơn và không bị giới hạn bởi số dòng hay âm tiết.
Nội dung của Gasa thường là những câu chuyện dài, miêu tả cuộc sống hàng ngày, tình yêu và thiên nhiên.
Thơ hiện đại:
Thơ hiện đại Hàn Quốc chịu ảnh hưởng của các phong trào văn học phương Tây, với sự đa dạng về hình thức và nội dung.
Các nhà thơ hiện đại như Han Yong-un (한용운) đã đóng góp nhiều tác phẩm nổi tiếng, phản ánh tinh thần dân tộc và những biến động xã hội.
Thơ tiếng Hàn không chỉ là một phần quan trọng của văn học Hàn Quốc mà còn là cầu nối văn hóa, giúp người đọc hiểu sâu hơn về tâm hồn và cuộc sống của người Hàn.
Làm thơ tiếng Hàn có thể thú vị và đầy cảm hứng. Dưới đây là một số bước cơ bản để bạn bắt đầu:
Chọn thể thơ:
Hyangga (향가): Thể thơ cổ điển, thường có 4, 8 hoặc 10 dòng.
Sijo (시조): Thể thơ truyền thống phổ biến nhất, gồm ba dòng, mỗi dòng có 14-16 âm tiết.
Gasa (가사): Thể thơ tự do hơn, không bị giới hạn bởi số dòng hay âm tiết.
Chọn chủ đề:
Chủ đề có thể là tình yêu, thiên nhiên, cuộc sống hàng ngày, hoặc bất kỳ điều gì bạn cảm thấy có cảm hứng.
Viết câu thơ:
Hyangga: Thường có cấu trúc đơn giản, dễ hiểu, với nhịp điệu nhẹ nhàng.
Sijo: Mỗi dòng chia thành hai phần, phần đầu thường miêu tả cảnh vật hoặc tình cảm, phần sau là suy nghĩ hoặc cảm xúc của tác giả.
Gasa: Tự do hơn, bạn có thể viết dài hơn và không cần tuân theo cấu trúc cố định.
Gieo vần:
Thơ tiếng Hàn thường gieo vần ở cuối câu, tạo nên sự nhịp nhàng và dễ nhớ.
Kiểm tra và chỉnh sửa:
Đọc lại bài thơ để đảm bảo nhịp điệu và ý nghĩa mượt mà, tự nhiên.
Chỉnh sửa các từ ngữ để bài thơ trở nên hoàn thiện hơn.
Dưới đây là một ví dụ về bài thơ Sijo:
눈이 부시게 푸르른 날은, (Trong những ngày trời xanh ngăn ngắt,) 그리운 사람을 그리워 하자. (Hãy mong nhớ những người thương yêu.) 저기 저기 저, 가을 꽃 자리, (Khi những bông hoa mùa thu nở rộ,) 초록이 지처 단풍 드는데. (Nhường chỗ cho sắc thu bát ngát.)
Mời bạn đọc tham khảo thêm Chùm Thơ Hàn Quốc Nổi Tiếng để lại nhiều ấn tượng cho các bạn đọc dưới đây:
공존의 이유 – Lý do sống cùng nhau Tác giả: Cho Byung-hwa
깊이 사랑하지 않도록 합시다. 우리의 인생이 그러하듯이 헤어짐이 잦은 우리들의 세대 가벼운 눈웃음을 나눌정도로 지내기로 합시다.
우리의 웃음마저 짐이 된다면 그때 헤어집시다. 어려운 말로 이야기하지 않도록 합시다.
당신을 생각하는 나를 얘기할 수 없음으로 인해 내가 어디쯤에 간다는 것을 보일 수 없으며 언젠가 우리가 헤어져야 할 날이 오더라도 후회하지 않을만큼 사랑합시다.
우리 앞에 서글픈 그날이 오면 가벼운 눈 웃음과 잊어도 좋을 악수를 합시다.
Tạm dịch
Đừng yêu nhau sâu đậm Vì trong cuộc sống của chúng ta đầy chia ly Vì vậy, chúng ta hãy yêu nhau nhẹ nhàng Nếu cái nắm tay cho nhau gánh nặng Thì hãy chia tay nhau
đừng dành cho nhau những lời khó nói chúng ta đừng nói những lời như: chỉ có mình người; chỉ hai chúng ta hay đó là bí mật của chúng ta
Vì tôi không biết tình cảm tôi dành cho người sâu đậm đến mức nào Vì tôi không thể biết được người nghĩ về tôi nhiều bao nhiêu Vì tôi không biết được tình cảm của mình đi xa đến bao nhiêu Vì vậy ta chỉ yêu nhau mà khi chia tay không hối hận
Đừng nói chia tay rồi lại nói ly biệt Hãy dành cho nhau cái nắm tay nhẹ nhàng để khi nếu có chia tay chúng ta có thể nhanh chóng quên đi
Không tên Tác giả: Chưa rõ
나 하늘로 돌아가리라 새벽빛 와 닿으면 스러지는 이슬 더불어 손에 손을 잡고
나 하늘로 돌아가리라 노을빛 함께 단 둘이서 기슭에서 놀다가 구름 손짓하면은
나 하늘로 돌아가리라 아름다운 이 세상 소풍 끝내는날 가서, 아름다웠더라고 말하리라…….
Tạm dịch
Tôi sẽ về lại thế giới bên kia Khi chạm vào những tia nắng mai Cùng với những hạt sương đang tan
Tôi sẽ về lại thế giới bên kia Chỉ cùng với ánh hoàng hôn như hai nhân ảnh Lúc đang chơi đùa ở chân núi và vờn nhẹ vào mây
Tôi sẽ về lại thế giới bên kia Ngày mà những cây phong trên thế gian đẹp tươi này tàn lụi Tôi đi rồi, sẽ nói rằng chúng đã từng đẹp biết bao nhiêu…
시조 – Sijo Tác giả: Cheongeum
산촌에 밤이 오니 먼 데 개 짖어 운다. 시비를 열고 보니 하늘이 차고 달이로다. 저 개야 공산 잠든 달을 짖어 무삼하리오.
Tạm dịch
Ở sơn thôn, màn đêm buông xuống nghe xa xa, tiếng chó vọng về Mở cửa liếp trông ra, chỉ thấy: trời giá lạnh, và ánh nguyệt soi Chó ơi chó! Vì sao sủa mãi trăng trên đồi thao thức giấc khuya!
서천으로 – Về Tây thiên Tác giả: Choi Jeong-rye
서천 냇갈에 고기 잡으러 갔다 솜 방맹이 석유 묻혀 깊은 밤 검은 내 불 밝히면 붕어들 눈 멀거나 뜨고 가만 있었다 흐르는 냇갈 안고 자고 있었다 밑 빠진 양철통 갖다대도 아직 세상 흐르는 줄 알고 가만 있었다 우리 언니 죽을 때 꼭 그랬다 착한 눈 멀거니 뜨고 입 벌린 채
Tạm dịch
Đi bắt cá ở suối Tây thiên Nhúng dầu miếng mồi bông Trong đêm khuya nhóm lên ngọn lửa đen Đám cá chép mờ mắt đứng im Ngủ ngon lành ôm dòng suối chảy Kệ cho đám chai lọ rơi xuống Vẫn tưởng rằng cuộc đời bình yên trôi Y như chị tôi lúc chết Đôi mắt hiền mở to Miệng nhệch dài
이른봄 아침 – Sáng sớm mùa xuân Tác giả: Jeong Ji-yong
귀에 설은 새소리가 새여들어와 참한 은시계로 자근자근 얻어맞은 듯, 마음이 이일 저일 보살핀 일로 갈러저, 수을방울처럼 동글동글 너동그라저, 춤기는 하고 진정 일어나기 싫어라.
새새끼와도 언어수작을 능히 할까 싶어라. 날카롭고도 보드라운 미음씨가 파다거리여. 새새끼와 내가 하는 에스페란토는 휘파람이라. 새새끼야, 한종일 날어가지 말고 울어나 다오, 오늘 아침에는 나이 어린 코끼리처럼 외로워라.
산봉오리 — 저쪽으로 돌린 푸로우 피일—- 페랑이 꽃으로 불그레하다, 씩 씩 뽑아 올라간, 밋밋하게 깎어 세운 대리석 기둥인 듯, 간ㅅ뎅이 같은 해가 익을거리는 아침 하늘을 일심으로 떠바치고 섰다. 봄ㅅ바람이 허리띄처럼 휘이 감돌아서서 사알랑 사알랑 날어오노니, 새새끼도 포르르 포르르 불려 왔구나
Tạm dịch
Tiếng chim lạ lọt vào tai Như đồng hồ bạc gõ hoài êm êm Lòng còn phân tán ưu phiền Việc này việc nọ liên miên lo dần Lăn tròn như giọt thuỷ ngân Giường êm rét lạnh ngại ngần đứng lên
Nhẹ nhàng như bắt chuột đêm Đẩy ngang cánh cửa nhìn xem ra ngoài Gió lùa quần mỏng suơng mai Ôi chao! Cái rét từ ngoài vào trong
Giữa nhành tầm gửi khô cong Bên khung cửi dệt chim non đi về
Tiếng chim non muốn nói gì Sao nghe da diết thầm thì trong tôi Ngôn từ chung của muôn loài Tiếng chim non với sáo trời khác đâu Chim đừng bay hót lên nào Sáng nay đơn độc khác nào voi con
Đỉnh núi phía ấy xoay vòng Hoa cẩm chướng ánh một vùng đỏ tươi Thái dương như miếng gan người Như cột cẩm thạch sáng ngời dựng lên Một lòng chống giữ trời xanh Gió xuân cuộn thổi xoay vành thắt lưng Êm đềm thổi đến lừng chừng Nhẹ nhàng gọi cả chim rừng đến sao
Ngôi nhà chúng tôi, thật huy hoàng tráng lệ Trong mắt tôi dù tỉnh hay mê Qua khỏi ngọn đồi kia Mây ơi hãy bay đi
즐거운 편지 – Những Bức Thư Hạnh Phúc Tác giả: Hwang Dong-gyu (황동규님)
내 그대를 생각함은 항상 그대가 앉아 있는 배경에서 해가 지고 바람이 부는 일처럼 사소한 일일 것이나 언젠가 내가 한없이 괴로움 속을 헤매일 때에 오랫동안 전해오던 그 사소함으로 그대를 불러보리라. 진실로 진실로 내가 그대를 사랑하는 까닭은 내 나의 사랑을 한없이 잇닿은 그 기다림으로 바꾸어버린 데 있었다. 밤이 들면서 골짜기엔 눈이 퍼붓기 시작했다. 내 사랑도 어디쯤에선 반드시 그칠 것을 믿는다. 다만 그때 내 기다림의 자세를 생각하는 것뿐이다. 그 동안에 눈이 그치고 꽃이 피어나고 낙엽이 떨어지고 또 눈이 퍼붓고 할 것을 믿는다.
Tạm dịch
Suy nghĩ của tôi về bạn luôn ở trong nền nơi bạn đang ngồi Khi mặt trời lặn và gió thổi, Một ngày nào đó khi tôi chìm trong đau khổ vô tận Với sự tầm thường đã được truyền lại từ rất lâu đời. Tôi sẽ gọi cho bạn Lý do tôi thực sự yêu bạn là Tình yêu của tôi được kết nối vô tận Đó là trong sự chờ đợi đã thay đổi. Khi màn đêm buông xuống, tuyết bắt đầu đổ xuống thung lũng. Tôi tin rằng tình yêu của mình chắc chắn đến một lúc nào đó sẽ dừng lại. Chỉ nghĩ về tư thế chờ đợi của tôi lúc đó. Trong khi đó, tuyết ngừng rơi, hoa nở và lá rơi Tôi cũng tin vào những gì tuyết sẽ làm.
하늘 – Bầu trời Tác giả: Chu Yo-han
구름없이 맑은 하늘 위에 웃음 띤 아침해가 돋아오른다. 바람과 찬비는 다 어디 갔나 저 하늘 볼 때마다 놀뛰는 가슴 그 속에 숨겨둔 애타는 생각을 저 파란 하늘 위에 놓아주면은 금 같은 소리 되어 님의 귀에, 불 같은 별이 되어 님의 속에, 나의 소원을 갖다주련만. 구름없이 맑은 하늘 위에 웃음 띤 아침해가 돋아오른다
Tạm dịch
Trên bầu trời xanh không gợn chút mây Bầu trời sớm mai nhoẻn miệng cười ló diện Gió mưa lạnh bỏ đi đâu hết nhỉ? Khi ngước nhìn bầu trời kia, lồng ngực tôi nhảy múa Nếu tôi gửi lên bầu trời xanh moi suy tâm đang gói gém trong lồng ngực tôi chúng sẽ biến thành thanh âm hoàng kim mang ước vọng của tôi đến thì thầm bên tai em chúng biến thành ánh sao rực lửa chuyển ước vọng của tôi đến lòng em, nhưng trên bầu trời xanh không gợn chút mây bầu trời sớm mai nhoẻn miệng cười ló diện
춘설 – Tuyết mùa xuân Tác giả: Jeong Ji-yong
문 열자 선뜻! 먼 산이 이마에 차라.
雨水節 들어 바로 초하로 아츰,
새삼스레 눈이 덮힌 뫼뿌리와 서늘옵고 빛난 이마받이 하다.
어름 금가고 바람 새로 따르거니 흰 옷고롬 절로 향긔롭어라.
옹숭거리고 살어난 양이 아아 꿈 같기에 설어라.
미나리 파릇한 새순 돋고 옴짓 아니긔던 고기입이 오믈거리는,
꽃 피기전 철아닌 눈에 핫옷 벗고 도로 칩고 싶어라.
Tạm dịch
Mở cửa ra! sự sảng khoái tràn vào mát lạnh Trên sườn núi xa xa tuyết phủ trắng một màu
Giới thiệu đến bạn những Câu Thơ Tiếng Hàn Chọn Lọc được Thohay.vn sưu tầm sau đây nhé!
별똥 – Mảnh sao băng Tác giả: Jeong Ji-yong
별똥 떨어진 곳, 마음해 두었다 다음날 가보려, 벼르다 벼르다 인젠 다 자랐오.
Tạm dịch
Ta đã đặt hồn ta nơi mảnh sao sa ngày ấy Ngày sau muốn đến tận nơi để thấy Háo hức, háo hức muốn đi Thế mà bây giờ đã lớn thật rồi đây
내일의 색시 – Cô dâu của ngày mai Tác giả: Kim Chi-ha
외로울 땐 외쳐라 괴로울 땐 눈물 말고 고함을 쳐라 내 내일의 색시 공장에서 밤으로 울음으로 긴 한숨으로 돌아가는 길에도 소리쳐 불러 불러라 너희들의 노래 너는 손이 큰 허리 굵은 열아홉 입살 험한 욕쟁이 내 내일의 색시
Tạm dịch
Hãy khóc Khi nàng thấy cô đơn Nhưng đừng rơi nước mắt Khi nàng thấy buồn phiền Mà hãy hét lên
Cô dâu của ngày mai Trở về từ nhà máy Đêm đi qua với nước mắt và tiếng thở dài Hãy để giọng nói nàng vang lên Hãy hát những bài ca hạnh phúc
Nàng, đang tuổi xuân mười tám Với hai bàn tay thô Và lời nói vụng về Cô dâu của ngày mai
꽃 – Hoa Tác giả: Kim Chun-su
내가 그의 이름을 불러주기 전에는 그는 다만 하나의 몸짓에 지나지 않았다.
내가 그의 이름을 불러주었을 때, 그는 나에게로 와서 꽃이 되었다.
내가 그의 이름을 불러준 것처럼 나의 이 빛깔과 향기에 알맞는 누가 나의 이름을 불러다오.
그에게로 가서 나도 그의 꽃이 되고 싶다.
우리들은 모두 무엇이 되고 싶다. 너는 나에게 나는 너에게 잊혀지지 않는 하나의 눈짓이 되고 싶다
Tạm dịch
Chưa nghe tiếng gọi tên mình Thì anh bất động, lặng thinh không lời Nghe em gọi đến tên rồi Anh thành hoa thắm suốt đời ở bên
Bây giờ hãy gọi tên em Để em cũng được êm đềm bên anh Cái tên hương sắc long lanh Bên anh, em cũng trở thành bông hoa
Mong rằng tất cả chúng ta Thành cái gì đó để mà tặng trao Có cần tìm ở nơi nào Ngay trong ánh mắt dạt dào không quên
인동잎 – Lá kim ngân Tác giả: Kim Chun-su
눈 속에서 초겨울의 붉은 열매가 익고 있다. 서울 근교(近郊)에서는 보지 못한 꽁지가 하얀 작은 새가 그것을 쪼아먹고 있다. 월동(越冬)하는 인동(忍冬) 잎의 빛깔이 이루지 못한 인간(人間)의 꿈보다도 더욱 슬프다.
Tạm dịch
Trái cây chín đỏ Trong tuyết đầu đông Chú chim nhỏ đuôi trắng Hiếm thấy ở Seoul Mổ trái ăn Màu lá kim ngân trú đông Buồn hơn cả giấc mơ không thành Của loài người
서울길 – Đường đến Seoul Tác giả: Kim Chi-ha
간다 울지 마라 간다 흰 고개 검은 고개 목마른 고개 넘어 팍팍한 서울 길 몸 팔러 간다
언제야 돌아오리란 언제야 웃음으로 화안히 꽃피어 돌아오리란 댕기 풀 안쓰러운 약속도 없이 간다 울지 마라 간다 모질고 모진 세상에 살아도 분꽃이 잊힐까 밀 냄새가 잊힐까 사뭇사뭇 못 잊을 것을 꿈꾸다 눈물 젖어 돌아올 것을 밤이면 별빛 따라 돌아올 것을
간다 울지 마라 간다 하늘도 시름겨운 목마른 고개 넘어 팍팍한 서울 길 몸 팔러 간다
Tạm dịch
Tôi ra đi Xin đừng khóc Vượt qua những quả đồi trắng Những quả đồi đen và nóng bỏng Bước trên đường dài bụi bặm đến Seoul Tôi ra đi để bán mình
Không một lời hứa trở về Trở về với nụ cười Trở về với tóc xoã bay Tôi đang đi
Đừng khóc, không được khóc Tôi đang đi Ai có thể nhớ lúc bốn giờ, mùi thơm bột bánh? Và trong cuộc sống buồn đau Những điều không thể nào quên được Trong những giấc mơ bất tận tôi đã trở về Đầy nước mắt khổ đau Chảy theo ánh trăng buốt lạnh…
Tôi đang đi Đừng khóc Tôi đang đi Vượt qua những quả đồi nóng bỏng Những quả đồi làm đau đớn bầu trời Và trên con đường bụi bặm đến Seoul Tôi ra đi để bán mình.
Bật mí bạn đọc 🌿 Thơ 8 Chữ 🌿 Về Tình Bạn, Về Mẹ, Thầy Cô, Cuộc Sống
Thơ Tiếng Hàn Ngắn
Tìm đọc thêm tập Thơ Tiếng Hàn Ngắn và đặc sắc nhất được chọn lựa kĩ càng sau đây, tham khảo ngay nhé!
낭인의봄 – Mùa xuân của khách lãng du Tác giả: Kim So Wol
휘둘리 산을 넘고. 굽이진 물을 건너, 푸른 풀 붉은 꽃에 길 걷기 시름이어.
잎 누런 시닥나무, 철 이른 푸른버들, 해 벌써 석양인데 불슷는 바람이어.
골짜기 이는 연기 메 틈에 잠기는데, 산마루 도는 손의 슬지는 그림자여.
산길가 외론 주막 어이그, 쓸쓸한데, 먼저 든 짐장사의 곤한 말 한 소리여
지는 해 그림자니, 오늘은어디까지, 어둔 뒤 아무데나, 가다가 묵을네라.
풀숲에 물김 뜨고, 달빛에 새 놀래는, 고운 봄 야반에도 내 사람 생각이어.
Tạm dịch
Qua núi quanh co, Nước chảy vòng vo, Bước đi buồn bã, Cỏ xanh, hoa đỏ
Cây phong lá đổ , Liễu chào xuân sang, Mặt trời ngả bóng, Gió về mơn man
Thung lũng khói mờ, Lững lờ khe núi Hình ai nhấp nhô Khuất vào góc núi
Chiếc quán đơn cô Bên đường quạnh quẽ Tiếng rao khe khẽ Kẻ bán hàng rong .
Mặt trời khuất bóng, Biết đi về đâu, Trời tối nơi nao, Là nơi dừng nghỉ,
Lùm cây mờ nước , Dưới ánh trăng vàng, Đêm xuân mơ màng, Bóng hính thương nhớ!
빈집 – Căn phòng trống Tác giả: Gi Hyeong-do
사랑을 잃고 나는 쓰네
잘 있거라, 짧았던 밤들아 창밖을 떠돌던 겨울안개들아 아무것도 모르던 촛불들아, 잘 있거라 공포를 기다리던 흰 종이들아 망설임을 대신하던 눈물들아 잘 있거라, 더 이상 내 것이 아닌 열망들아
장님처럼 나 이제 더듬거리며 문을 잠그네 가엾은 내 사랑 빈집에 갇혔네
Tạm dịch
Tình mất rồi ta viết một bài thơ
Tạm biệt nhé, hỡi màn đêm ngắn ngủi Hỡi sương mù mùa đông phảng phất ngoài cửa sổ Hỡi ánh nến không hề biết điều chi, tạm biệt nhé Hỡi mảnh giấy trắng đang chờ ta trút giận Hỡi giọt nước mắt thay nỗi lòng do dự Hỡi khao khát mà ta không muốn níu kéo nữa, tạm biệt nhé
Ta mò mẫm như người mù, tự mình khoá cửa lại Tình yêu bất hạnh của ta giờ đã bị giam trong căn phòng trống
惜春 – Tích xuân Tác giả: Jingak Hyesim
暗惜春將季, 沈吟小苑中。 葉風飜駭綠, 花雨落紛紅。
Tạm dịch
Nuối tiếc xuân sắp hết, Trong vườn nhỏ trầm ngâm. Gió lay lá ngại biếc, Mưa xuống hoa rụng thầm.
지연 – Cánh diều Tác giả: Kim So-wol
오후의 네길거리 해가 들었다, 시정의 첫겨울의 적막함이여, 우둑히 문어귀에 혼자 섰으면, 흰눈의 잎사귀, 지연이 뜬다.
Tạm dịch
Mặt trời mọc ngã tư đường Thị thành vắng lặng đời thường đầu đông Một mình cửa vắng ngóng trông Lá cây trắng tuyết, trên không cánh diều
아무도 없다 – Không một ai Tác giả: Kim Chi-ha
여기서부터 저기까지는 아무도 없다
검은 개천위에 달빛이 몰락하는 돌다리위에 이 이상스럽도록 아름다운 하이얀 입김서린 집속엔 아무도 없다
캄캄하고 달속을 둔주하는 銀錢에 짓눌려 뒤틀리는 사지의 낡은 꿈속은 캄캄하고
푸르게 물드는 腦속에서 죽어가는 나의 나로부터 길에는 아무도 없다.
Tạm dịch
Từ nơi này Và những con đường nơi kia Không một bóng người
Phía trên dòng suối đen Một cây cầu đá Nơi đổ vỡ ánh trăng Trong ngôi nhà yên tĩnh Mây bay cùng hơi thở Không một bóng người
Bóng tối Giữa giấc mơ cũ Của hai cánh tay tôi Đau đớn chạm một đồng xu Lăn vòng trong mặt trăng Bóng tối
Và trên con đường Chạy khỏi tôi Giờ đang chết Trong khối não nhuộm màu xanh da trời Không một bóng người.
새벽 – Bình minh Tác giả: Kim So-wol
낙엽이 발이 숨는 못물가에 우뚝우뚝한 나무 그림자 물빛조차 어섬푸레히 떠오르는데, 나 혼자 섰노라, 아직도 아직도, 동(東)녘 하늘은 어두운가. 천인(天人)에도 사랑 눈물, 구름 되어, 외로운 꿈의 베개, 흐렸는가 나의 님이여, 그러나 그러나 고이도 붉으스레 물 질러 와라 하늘 밟고 저녁에 섰는 구름. 반(半)달은 중천(中天)에 지새일 때.
Tạm dịch
Bóng cây cao chìm trong hồ nước Lá rơi vàng vụng trốn đáy hồ sâu Ánh nước lung linh mập mờ xanh biếc Một mình tôi đứng ngắm suốt hồi lâu Bầu trời biếc phía đông còn mờ ảo Ráng mây buồn tiên nữ khóc tình yêu Nước mắt rơi trên gối giấc mơ sầu Nhưng nhưng kìa, hỡi người tôi yêu dấu Má ửng hồng ai gánh nước về đâu Đám mây chiều sót lại giữa trời cao Và một nửa vầng trăng lơ lửng bóng
초혼 – Cầu hôn Tác giả: Kim So-wol
산산이 부서진 이름이여! 허공 중에 헤어진 이름이여! 불러도 주인 없는 이름이여! 부르다가 내가 죽을 이름이여!
심중에 남아 있는 말 한 마디는 끝끝내 마저 하지 못하였구나. 사랑하던 그 사람이여! 사랑하던 그 사람이여!
붉은 해는 서산 마루에 걸리었다. 사슴의 무리도 슬피 운다. 떨어져 나가 앉은 산(山) 위에서 나는 그대의 이름을 부르노라.
설움에 겹도록 부르노라. 설움에 겹도록 부르노라. 부르는 소리는 비껴 가지만 하늘과 땅 사이가 너무 넓구나.
선 채로 이 자리에 돌이 되어도 부르다가 내가 죽을 이름이여! 사랑하던 그 사람이여! 사랑하던 그 사람이여!
Tạm dịch
Hỡi cái tên đã vỡ ra từng mảnh! Hỡi cái tên đã rơi vào hư không! Hỡi cái tên không còn có chủ nhân! Hỡi cái tên vừa gọi đến đã chết đời tôi!
Dù chỉ một lời còn lại trong tim Cũng không thể nói hết lời, không thể Hỡi con người mà tôi yêu quý thế! Hỡi con người mà tôi rất mến thương!
Mặt trời đỏ còn treo trên sườn núi Đàn hươu rừng cũng khóc tiếng kêu thương Tôi ra đi ngồi trên sườn núi Kêu tên người thương nhớ nhớ thương
Gọi trong nỗi buồn thương không chịu nổi Gọi trong nỗi buồn thương không chịu nổi Tiếng gọi lọt vào từng góc núi Nhưng khoảng cách trời đất quá xa xôi
Cứ đứng đó dù trở thành đá cứng Hỡi cái tên gọi đến làm chết đời tôi! Hỡi con người mà tôi yêu dấu! Hỡi con người mà tôi thương yêu!
Gửi tới bạn tuyển tập 🌿 Thơ 7 Chữ 🌿 Về Cuộc Sống, Quê Hương
Thơ Tiếng Hàn Về Cuộc Sống Mới Nhất
Gợi ý thêm cho các bạn độc giả chùm Thơ Tiếng Hàn Về Cuộc Sống Mới Nhất được chia sẻ sau đây:
보현십원가 – Bài ca về mười nguyện Phổ Hiền Tác giả: Gyun Nyeo
Mặt trời giữa không trung, Mây giăng núi trùng trùng. Sư nhìn ngờ chùa cổ, Hạc thấy hận không tùng. Chớp loé tựa nhát búa, Sấm rền như tiếng chuông. Ai rằng non chẳng động, Gió chiều cuốn sạch không.
밤 – Đêm Tác giả: Jeong Ji-yong
눈 머금은 구름 새로 흰달이 흐르고,
처마에 서린 탱자나무가 흐르고,
외로운 축불이, 물새의 보금자리가 흐르고…
표범 껍질에 호젓하이 쌓이여 나는 이밤, (적막한 홍수)를 누워 건늬다.
Tạm dịch
Mây ôm ấp tuyết tinh khôi Trăng ngần trắng vẫn đang trôi lưng trời
Cành cam ướt đẫm sương rơi Ngoài hiên như vẫn đang trôi hững hờ
Đơn côi ngọn nến vật vờ Tổ sơn cầm cũng lững lờ trôi đi…
Báo vằn da nhuốm quạnh hiu “Một trời cô quạnh” kéo theo đêm này
고향 – Quê hương Tác giả: Jeong Ji-yong
고향에 고향에 돌아와도 그리던 고향은 아니러뇨.
산꽁이 알을 품고 뻐꾸기 제철에 울건만,
마음은 제고향 지니지 않고 머언 항구로 떠도는 구름.
오늘도 메 끝에 홀로 오르니 흰점 꽃이 인정스레 웃고,
어린 시절에 불던 풀피리 소리 아니 나고 메마른 입술에 쓰디 쓰다.
고향에 고향에 돌아와도 그리던 하늘만이 높푸르구나.
Tạm dịch
Về quê, mỗi bận về đây Còn đâu quê cũ những ngày xa xưa
Công rừng ấp trứng sớm trưa Chim quyên “cuốc cuốc” đúng mùa gọi nhau
Trong lòng, quê ấy còn đâu Chòm mây lơ lửng cảng cầu xa xôi
Cuối rừng về lại mình tôi Hoa từng điểm trắng cười người đi xa
Còn đâu tiếng sáo tuổi thơ Môi khô cỏ chát đến giờ chưa thôi
Quê đây, về đến quê rồi Chỉ còn lại một bầu trời cao xanh
지는 해 – Mặt trời lặn Tác giả: Jeong Ji-yong
우리 오빠 가신곳은 해님 지는 서해건너 멀리 멀리 가셨다네. 웬일인가 저 하늘이 피ㅅ빛 보담 무섭구나! 난리 났나. 불이 났나.
Tạm dịch
Nơi mà anh tôi đã đi Qua mặt trời lặn biển Tây xa vời Anh đi, xa lắm lắm rồi Không hay chốn ấy bầu trời ra sao Màu như máu sợ biết bao! Chiến tranh, hoả hoạn việc nào xảy ra
Sau đây là tập Thơ Tiếng Hàn Về Mùa Thu Ngắn, cùng đón đọc và cảm nhận thêm nhé!
자화상 – Chân dung tự họa Tác giả: Chưa rõ
산모퉁이를 돌아 논가 외딴 우물을 홀로 찾아가선 가만히 들여다 봅니다 우물 속에는 달이 밝고 구름이 흐르고 하늘이 펼치고 파아란 바람이 불고 가을이 있읍니다 그리고 한 사나이가 있습니다 어쩐지 그 사나이가 미워져 돌아갑니다 돌아가다 생각하니 그 사나이가 가엾어집니다 도로 가 들여다 보니 사나이는 그대로 있읍니다 다시 그 사나이가 미워져 돌아갑니다 돌아가다 생각하니 그 사나이가 그리워집니다 우물 속에는 달이 밝고 구름이 흐르고 하늘이 펼치고 파아란 바람이 불고 가을이 있고 추억처럼 사나이가 있읍니다
Tạm dịch
Đi qua ngọn đồi tôi nhìn ra cái giếng Đứng cô đơn bên mé một cánh đồng Tôi tiến đến gần và đưa mắt nhìn xem. Bên trong giếng có ánh trăng thanh Có đám mây bay lượn giữa trời xanh Có gió thổi và mùa thu ở đấy. Và có một người đàn ông Không chút cảm tình nên tôi quay trở lại. Và khi quay trở lại Tôi nghĩ suy và cảm thấy thương Thế là tôi lại tiến đến gần Và thấy anh ta vẫn còn ở đấy. Nhưng người ấy lại làm tôi khó chịu Và tôi lại bỏ ra đi Nhưng tôi bắt đầu nhớ con người ấy. Bên trong giếng có trăng, mây bay lượn Có mùa thu, gió thổi giữa trời xanh Và người đàn ông – giống như hoài niệm.
Núi hôm nay vẫn là núi cũ Nhưng nước này đâu phải nước xưa Suốt đêm ngày nước kia chảy mãi Hỏi đâu còn nước của ngày xưa! Nhân kiệt cũng hệt như nước chảy Một đi rồi, chẳng trở về đâu!
感興 – Cảm hứng Tác giả: Jingak Hyesim
春秋草色靑黃, 旦暮雲谷白黑。 誰憐偃蹇寒松, 萬古靑靑色一。
Tạm dịch
Xuân thu cỏ xanh rồi vàng, Sớm chiều mây kia đổi sắc. Ai thương lạnh lẽo rừng tùng, Muôn thuở một màu xanh ngắt.
秋感 – Thu cảm Tác giả: Jingak Hyesim
西風吹幽林, 秋色忽上葉。 感此百年身, 老來何大捷。
Tạm dịch
Gió tây thổi rừng sâu, Màu thu vàng trên lá. Cảm nỗi tấm thân này, Già đến sao nhanh quá.
가을 저녁에 – Chiều thu Tác giả: Kim So-wol
물은 희고 길구나, 하늘보다도. 구름은 붉구나, 해보다도. 서럽다, 높아 가는 긴 들 끝에 나는 떠돌며 울며 생각한다, 그대를.
그늘 깊이 오르는 발 앞으로 끝없이 나아가는 길은 앞으로. 키 높은 나무 아래로, 물 마을은 성긋한 가지가지 새로 떠오른다.
그 누가 온다고 한 언약(言約)도 없건마는! 기다려 볼 사람도 없건마는! 나는 오히려 못 물가를 싸고 떠돈다. 그 못물로는 놀이 잦을 때.
Tạm dịch
Nước trắng xoá trải dài hơn trời biếc Ráng mây in màu đỏ ánh tà dương Buồn vô tận, một mình trên đồng rộng Lang thang chiều, khóc vương vấn người thương
Chân bước tới, bóng râm chiều sâu thẳm Con đường đi phía trước tít xa xăm Làng khuất bóng núp dưới vòm cây rộng Hiện dần lên từng xóm, xóm ven sông
Không ước hẹn cùng ai, ai đến đó Không chờ ai, cũng chẳng thiết mong ai Mình thơ thẩn lang thang hồ nước biếc Tia nắng chiều lặn dưới đáy hồ sâu
Tuyển chọn những chùm Thơ Hàn Quốc Về Thiên Nhiên Cực Hay sau đây:
해당화 – Hoa hải đường Tác giả: Han Yong-un
당신은 해당화 피기전에 오신다고 하였습니다. 봄은 벌써 늦었습니다. 봄이 오기 전에는 어서 오기를 바랬더니 봄이 오고 보니 너무 일찍 왔나 두려워합니다.
철 모르는 아이들은 뒷동산에 해당화가 피었다고 다투어 말하기로 듣고도 못 들은 체 하였더니 야속한 봄바람은 나는 꽃을 불어서 경대 위에 놓입니다 그려. 시름없이 꽃을 주워 입술에 대고 ‘너는 언제 피었니’ 하고 물었습니다. 꽃은 말도 없이 나의 눈물에 비쳐서 둘도 되고 셋도 됩니다.
Tạm dịch
Anh hứa đến, trước khi hoa hải đường bừng nở Mùa xuân đã đến rồi Em mong anh đến trước mùa xuân Nhưng phải chăng xuân sang quá sớm!
Những đứa trẻ thơ ngây không biết đến thời, mùa Vô tư báo rằng hoa hải đường sau núi kia đã nở! Em nghe rõ nhưng giả vờ không biết Ngọn gió xuân ước hẹn thổi bông hoa đặt lên bàn trang điểm nơi em Hững hờ em nhặt hoa lên môi mà rằng:”Hoa nở bao giờ” Hải đường lặng im, soi vào làn nước mắt em, nhập nhòa.
꽃 – Hoa Tác giả: Chu Yo-han
꽃이 핀다, 님의 웃음이 떨어지는 곳마다 꽃이 핀다 그 꽃을 손으로 꺾었더니 꽃도 잎도 다 떨어졌다. 땅에 떨어진 님의 웃음 마음속 길이 간직했더니 그게 피어나 꽃이 되어 이 타는 속을 미칠듯이.
Tạm dịch
Hoa nở, nụ cười của tình yêu nở hoa, chính mỗi nơi hoa tàn Lấy tay ngắt nhành hoa ấy cả hoa lẫn lá rụng rơi Giữ chặt tận sâu trong lòng nụ cười héo hắt của anh nụ cười anh nở thành hoa như chạm đến cả lòng em, đang cháy bùng
샘물이 혼자서 – Dòng suối nhỏ Tác giả: Chu Yo-han
샘물이 혼자서 춤추며 간다. 산골짜기 돌 틈으로
샘물이 혼자서 웃으며 간다. 험한 산길 꽃 사이로
하늘은 맑은데 즐거운 그 소리 산과 들에 울리운다.
Tạm dịch
Một dòng suối nhỏ Một mình tung tăng Sỏi đá dưới dòng
Một dòng suối nhỏ Một mình tha thẩn Hoa lá hai bờ
Dưới trời trong xanh Dòng suối uốn mình Qua từng khe núi
비가 옵니다 – Tiếng mưa Tác giả: Chu Yo-han
밤은 고요히 깃을 벌리고, 비는 뜰 위에 속삭입니다. 몰래 지껄이는 병이리같이.
이즈러진 달이 실낱 같고 별에서도 봄이 흐를 듯이 따뜻한 바람이 불더니, 오늘은 이 어둔 밤을 비가 옵니다.
비가 옵니다. 다정한 손님같이 비가 옵니다. 창을 열고 맞으려 하여도 보이지 않게 속삭이며 비가 옵니다.
비가 옵니다. 뜰 위에 창 밖에 지붕에 남 모를 기쁜 소식을 나의 가슴에 전하는 비가 옵니다.
Tạm dịch
Ngoài kia mưa đang rơi Đêm vỗ về đôi cánh Lặng yên trong đất trời
Mưa trò chuyện xì xào Như lũ gà con đó Đang chiêm chiếp cùng nhau
Trăng khuya còn mỏng mảnh Trong như là sợi tơ Gió bắt đầu lay động
Và dường như bất ngờ Mùa xuân đang rơi xuống Từ các vì sao đêm
Mưa vẫn rơi thật êm Dịu dàng như tiếng gọi Bạn vừa đến bên thềm
Tôi mở toang cửa sổ Đón chào bạn của tôi Mưa vẫn rơi êm ả
Trong hình hài hư vô Trong sân, bên cửa sổ Và cả trên mái nhà
Mưa vẫn rơi rơi mãi Mang theo dòng nước đầy Trong lành và mát dịu Cho niềm hân hoan này
Không nên bỏ lỡ những bài Thơ Tiếng Hàn Về Tình Yêu Bất Hủ nổi tiếng nhất sau đây:
당신은 – Anh Tác giả: Han Yong-un
당신은 나를 보면 왜 늘 웃기만 하셔요 당신의 찡그리는 얼굴을 좀 보고 싶은데 나는 당신을 보고 찡그리기는 싫어요 당신은 찡그리는 얼굴을 보기 싫어하실 줄을 압니다 그러나 떨어진 도화가 날아서 당신의 입술을 스칠 때에 나는 이미가 찡그려지는 줄도 모르고 울고 싶었습니다 그래서 금실로 수놓은 수건으로 얼굴을 가렸습니다
Tạm dịch
Tại sao anh chỉ cười khi nhìn em Em muốn nhìn, dù một nét cau mày trên khuôn mặt anh Khi em nhìn anh, em không thích cau có Vì em biết anh không thích nhìn khuôn mặt cau có bao giờ Nhưng khi hoa đào rơi vô tình bay lướt trên môi anh Trán em vô tình nhăn lại, muốn bật lên tiếng khóc Em đã che khuôn mặt bằng chiếc khăn thêu chỉ vàng
Trong gió xuân, liễu như ngàn sợi chỉ đu đưa mình, sao trói buộc được đây? Ong bướm tìm hoa, hoa đã rụng thề mà rồi chẳng biết làm sao? Tình yêu có nặng sâu đi nữa sao giữ được Người khi bước ra đi?
우리의 사랑 – Tình đôi ta Tác giả: Chưa rõ
당신의 사랑이 바다라면 당신의 사랑은 보트가 아닙니다 플로팅 및 소형 폭풍우와 고요함. 당신의 사랑이 바다라면 부드러운 땅이 되고 싶어 삶, 삶을 품다 흔들리는 쪽을 위한 키스. 당신의 사랑이 기억한다면 당신의 사랑은 시가 될 것입니다 시는 당신의 눈과 같습니다 본 적 있어? 당신의 사랑이 기억한다면 나보다 더 기억나? 모든 호흡 차이 언제봐도 부드러운 입술. 당신의 사랑이 당신이라면 그럼 내가 참아야지 이해하기 쉬운 것을 위해 녹색 잎처럼.
Tạm dịch
Nếu tình anh là biển Tình em chẳng là thuyền Lênh đênh và nhỏ bé Giông bão cả bình yên. Nếu tình anh là biển Em nguyện hóa đất hiền Ôm một đời, một kiếp Hôn cho bõ chao nghiêng. Nếu tình anh là nhớ Tình em sẽ là thơ Thơ như mắt anh nhỏ Anh có thấy bao giờ? Nếu tình anh là nhớ Đố nhớ nhiều hơn em Mỗi lần chênh nhịp thở Mỗi lần hé môi mềm. Nếu tình anh là anh Thì thôi em đành chịu Vì một điều dễ hiểu Như chiếc lá màu xanh.
Không tên Tác giả: Chưa rõ
학교 문을 기다리다 지쳤어 사람들이 돌아옵니다. . .거리는 소란스럽다 누가 어디에서 볼 수 있습니까? 구름이 낮을수록 바람은 높아집니다. . .홀로 침묵에서 등을 돌리는 공간 봄 빗방울도 본의 아니게 누군가를 괴롭힌다. 비는 머리카락으로 가득 차고 바람은 귀로 가득 차 사방의 슬픔은 긴 생각을 떠돌아다닌다. 더 희망합니다. . .기억에 더 좋아합니다. . . 그는 왜 이 순간까지 돌아오지 않았을까? 혼자 무거운 발걸음을 딛고 바람은 너덜너덜한 여름 잎사귀를 불어 공을 가지고 노는 다른 영혼들 땅이 화를 내며 지평선이 멀다. 당신을 사랑함으로써 부드러운 슬픔
Tạm dịch
Mòn con mắt đợi cổng trường Người ta về các ngả đường xôn xao Bóng ai nào thấy đâu nào? Mây càng thấp, gió càng cao Một mình Không gian ngoảnh mặt làm thinh Giọt mưa xuân cũng vô tình trêu ai. Mưa đầy tóc, gió đầy tai Sầu theo bốn hướng trôi dài tâm tư. Mong càng thêm nhớ càng như Lẽ đâu tới phút này ư chưa về ? Một mình gieo bước nặng nề Gió tung xác lá bên hè tả tơi Hồn chênh vênh bóng chơi vơi Đất cong mặt giận, chân trời lảng xa. Bởi yêu em sầu khổ dịu dàng
꿈으로 오는 한 사람 – Người đến trong mơ Tác giả: Kim So-wol
나이 차라지면서 가지게 되었노라 숨어 있던 한 사람이, 언제나 나의, 다시 깊은 잠속의 꿈으로 와라 붉으렷한 얼굴에 가늣한 손가락의, 모르는 듯한 거동(擧動)도 전(前)날의 모양대로 그는 야젓이 나의 팔 위에 누워라 그러나 그래도 그러나! 말할 아무것이 다시 없는가! 그냥 먹먹할 뿐, 그대로 그는 일어라. 닭의 홰치는 소리. 깨어서도 늘, 길거리에 사람을 밝은 대낮에 빗보고는 하노라
Tạm dịch
Nhẹ nhàng tuổi tác đến mau Người tôi thầm giấu từ lâu những ngày Lúc nào nàng cũng đến đây Vào trong giấc ngủ mê say tôi cùng Tay nâng mặt đỏ thẹn thùng Như xưa nằm gọn trong vòng tay tôi Nhưng mà, lại nhưng mà thôi! Sao không nói lấy một lời với tôi! Cứ âm ư chẳng một lời Tiếng gà vỗ cánh ngoài trời vọng qua Tỉnh giấc, vẫn cảnh đường xa Bao người trong nắng chói loà giữa trưa
Tuyển tập Thơ Tình Tiếng Hàn Đầy Cảm Xúc được chia sẻ sau đây, hãy cùng đón đọc và cảm nhận những tâm tư tình cảm tác giả gửi vào bài thơ.
그대 있음에 – Bởi Vì Em Ở Đây Tác giả: Namjo Kim (김남조님)
그대의 근심 있는 곳에 나를 불러 손잡게 하라 큰 기쁨과 조용한 갈망이 그대 있음에 내 마음에 자라거늘 오 그리움이여 그대있음에 내가 있네 나를 불러 손잡게 해 그대의 사랑 문을 열때 내가 있어 그 빛에 살게 해 사는 것의 외롭고 고단함 그대 있음에 사람의 뜻을 배우니 오 그리움이여 그대 있음에 내가 있네 나를 불러 그 빛에 살게 해
Tạm dịch
Lo lắng của bạn ở đâu Gọi cho tôi và nắm tay tôi Niềm vui lớn và niềm khao khát thầm lặng Với bạn Lớn lên trong trái tim tôi Tôi nhớ bạn Tôi tồn tại vì bạn Gọi cho tôi và nắm tay tôi Khi bạn mở cánh cửa tình yêu của bạn Tôi ở đó, hãy để tôi sống trong ánh sáng đó Sự cô đơn và khó khăn của cuộc sống Với bạn Học hỏi ý chí của mọi người Tôi nhớ bạn Tôi tồn tại vì bạn Hãy gọi cho tôi và để tôi sống trong ánh sáng đó.
너를 기다리는 동안 – Trong Khi Chờ Đợi Bạn Tác giả: Hwang Ji-woo (황지우님)
네가 오기로 한 그자리, 내가 미리 와 있는 이곳에서 문을 열고 들어오는 모든 사람이 너였다가 너였다가, 너일 것이었다가 다시 문이 닫힌다. 사랑하는 이여, 오지 않는 너를 기다리며 마침내 나는 너에게 간다. 아주 먼 데서 나는 너에게 가고 아주 오랜 세월을 다하여 너는 지금 오고 있다. 아주 먼 데서 지금도 천천히 오고 있는 너를 너를 기다리는 동안 나도 가도 있다. 남들이 열고 들어오는 문을 통해 내 가슴에 서성거리는 모든 발자국 따라 너를 기다리는 동안 나는 너에게 가고 있다.
Tạm dịch
Nơi em quyết định đến, từ nơi này, nơi anh đã đến tất cả những ai mở cửa và bước vào là em đó là em, đó là em cánh cửa đóng lại Yêu quý, chờ em không đến Cuối cùng thì anh cũng đến với em Từ phương xa anh về bên em Sau rất nhiều năm, anh sẽ đến bây giờ. Em, người vẫn đang dần đến từ nơi xa Trong khi đợi anh, em cũng có thể đi. qua cánh cửa mà người khác mở Theo từng bước chân lang thang trong tim Anh đang đến với em trong khi chờ đợi anh.
님과 벗 – Yêu và bạn Tác giả: Kim So-wol
벗은 설움에서 반갑고 님은 사랑에서 좋아라. 딸기꽃 피어서 향기(香氣)로운 때를 고초(苦草)의 붉은 열매 익어가는 밤을 그대여, 부르라, 나는 마시리.
Tạm dịch
Lúc buồn có bạn làm vui Trong tình yêu thật tuyệt vời em tôi Hoa dâu tây nở hương đời Ớt tươi quả chín đỏ trời trong đêm Em ơi, hãy hát đi em Để tôi nhấp uống tình em dịu hiền
님의 노래 – Bài hát em tôi Tác giả: Kim So-wol
그리운 우리 님의 맑은 노래는 언제나 제 가슴에 젖어 있어요
긴 날을 문 밖에서 서서 들어도 그리운 우리 님의 고운 노래는
해지고 저무도록 귀에 들려요 밤들고 잠드도록 귀에 들려요
고이도 흔들리는 노랫가락에 내 잠은 그만이나 깊이 들어요
고적한 잠자리에 홀로 누워도 내 잠은 포스근히 깊이 들어요
그러나 자다깨면 님의 노래는 하나도 남김 없이 잃어버려요
들으면 듣는 대로 님의 노래는 하나도 남김없이 잊고 말아요.
Tạm dịch
Bài hát trong lành của em thương nhớ Luôn vang lên trong lồng ngực, trái tim tôi
Đứng trước cửa nhà em, suốt ngày tôi lắng nghe Bài hát dịu hiền của người tôi nhớ thương Mặc trời tối, bóng hoàng hôn buông xuống Đêm dù khuya, trong giấc ngủ vẫn nghe em
Trong giọng hát êm đềm vang trong trẻo Giấc ngủ tôi như chìm vào ngất ngây Nằm một mình trên chiếc giường cô tịch Giấc mơ tôi chìm vào đắm say
Nhưng tỉnh rồi còn đâu nữa Bài hát em không đọng lại trong tim Nghe rồi nghe em, bài hát ấy Để rồi quên, quên hết, chẳng vấn vương
꿈으로 오는 한 사람 – Người đến trong mơ Tác giả: Kim So-wol
나이 차라지면서 가지게 되었노라 숨어 있던 한 사람이, 언제나 나의, 다시 깊은 잠속의 꿈으로 와라 붉으렷한 얼굴에 가늣한 손가락의, 모르는 듯한 거동(擧動)도 전(前)날의 모양대로 그는 야젓이 나의 팔 위에 누워라 그러나 그래도 그러나! 말할 아무것이 다시 없는가! 그냥 먹먹할 뿐, 그대로 그는 일어라. 닭의 홰치는 소리. 깨어서도 늘, 길거리에 사람을 밝은 대낮에 빗보고는 하노라
Tạm dịch
Nhẹ nhàng tuổi tác đến mau Người tôi thầm giấu từ lâu những ngày Lúc nào nàng cũng đến đây Vào trong giấc ngủ mê say tôi cùng Tay nâng mặt đỏ thẹn thùng Như xưa nằm gọn trong vòng tay tôi Nhưng mà, lại nhưng mà thôi! Sao không nói lấy một lời với tôi! Cứ âm ư chẳng một lời Tiếng gà vỗ cánh ngoài trời vọng qua Tỉnh giấc, vẫn cảnh đường xa Bao người trong nắng chói loà giữa trưa