38+ Bài Thơ Trung Quốc Về Cuộc Sống, Tình Bạn Hay Nhất. Đừng Bỏ Lỡ Danh Sách Những Bài Thơ Tiếng Trung Nổi Tiếng Nhất Được Thohay.vn Sưu Tầm Dưới Đây.
NỘI DUNG CHÍNH
Đặc Điểm Thơ Trung Quốc
Thơ Trung Quốc, đặc biệt là thơ Đường, có nhiều đặc điểm nổi bật và phong phú. Dưới đây là một số đặc điểm chính:
Tính nhạc và tính họa
Thơ Đường rất coi trọng tính nhạc và tính họa, tức là sự kết hợp giữa âm thanh và hình ảnh trong thơ.
Ví dụ, thơ của Vương Duy thường được ví như “trong mỗi bài thơ là một bức họa, và trong mỗi bức họa lại có một bài thơ”.
Sự chắt lọc ngôn từ
Thơ Đường nổi tiếng với sự chắt lọc về ngôn từ, sâu sắc về ý tứ và giàu chất trữ tình. Các nhà thơ thường sử dụng ngôn từ một cách tinh tế để truyền tải cảm xúc và ý nghĩa sâu xa.
Luật bằng trắc và cấu trúc chặt chẽ
Thơ Đường có quy tắc nghiêm ngặt về luật bằng trắc và cấu trúc. Các bài thơ thường tuân theo các thể loại như ngũ ngôn (5 chữ), thất ngôn (7 chữ), tuyệt cú (4 câu), và bát cú (8 câu).
Chủ đề phong phú
Thơ Đường bao gồm nhiều chủ đề khác nhau như thiên nhiên, tình yêu, triết lý, và cuộc sống hàng ngày. Các nhà thơ như Lý Bạch và Đỗ Phủ đã sáng tác nhiều bài thơ nổi tiếng với các chủ đề đa dạng này.
Ảnh hưởng sâu rộng
Thơ Đường không chỉ có ảnh hưởng lớn trong văn học Trung Quốc mà còn lan tỏa đến nhiều nền văn học khác, bao gồm cả Việt Nam.
Một trong những bài thơ nổi tiếng của Lý Bạch là “Tĩnh Dạ Tứ“:
床前明月光, 疑是地上霜。 举头望明月, 低头思故乡。
Dịch nghĩa:
Ánh trăng sáng trước giường, Ngỡ là sương trên mặt đất. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng, Cúi đầu nhớ quê hương.
Thơ Trung Quốc về cuộc sống thường mang đậm chất triết lý và cảm xúc, phản ánh những suy tư, cảm nhận về cuộc sống hàng ngày, thiên nhiên và con người. Dưới đây là một số bài thơ nổi tiếng:
Trắng như tuyết trên núi, Sáng như trăng ở trong mây. Nghe lòng chàng có hai ý, Nên thiếp quyết cắt đứt. Ngày hôm nay nâng chén sum vầy, Sớm mai đã đưa tiễn nhau ở bên sông. Đi lững thững trên dòng nước, Nước cứ chảy xuôi mãi từ đồng về tây.
Ông lão nhà nghèo ở trong núi, Cày cấy đất núi được ba bốn mẫu. Lúa ít đóng thuế nhiều nên không có lúa để ăn, Gom về kho quan để mốc thành đất. Cuối năm, cày bừa để dựa góc nhà trống không, Ông kêu con cháu lên núi hái hạt dẻ rừng về ăn. Nhà buôn ở Tây Giang kho báu có cả trăm hộc, Chó nuôi trên thương thuyền ngày nào cũng có thịt ăn.
Chim anh vũ xưa bay đến sông Ngô Bãi trên sông mới truyền lại tên Anh Vũ Chim anh vũ đã bay về Tây qua núi Lũng Bãi thơm cây xanh biếc làm sao! Khói toả ra từ lá cây lan làm gió thơm nổi dậy Bờ liền với hoa đào, sóng gấm sinh Lúc ấy người đi đày trông hoài cõi xa Trên bãi dài mảnh trăng cô đơn còn soi sáng cho ai.
Nước phá tan, núi sông còn đó, Đầy thành xuân cây cỏ rậm sâu. Cảm thời hoa rỏ dòng châu Biệt ly tủi giận, chim đau nỗi lòng. Ba tháng khói lửa ròng không ngớt, Bức thư nhà, giá đắt bạc muôn. Gãi đầu tóc bạc ngắn ngun, Dường như hết thảy, e khôn búi tròn.
枫桥夜泊: Phong Kiều Dạ Bạc Tác giả: Trương Kế
月落乌啼霜满天 江枫鱼火对愁眠 姑苏城外寒山寺 夜半钟声到客船
Bản dịch của Nguyễn Hàm Ninh
Trăng tà chiếc quạ kêu sương Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ Thuyền ai đậu bến Cô Tô Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
Ngọn núi vắng sau cơn mưa Thời tiết ban đêm đã là thu rồi Ánh trăng sáng chiếu qua rừng cây tùng Suối nước xanh chảy trên đá Nghe có tiếng trúc xào xạc mấy cô đi giặt áo về Tiếng lá sen xao động có người hạ thuyền xuống Tùy ý, hương xuân đã hết Các vương tôn muốn ở lại thì tự nhiên
玉楼春-春恨 / Ngọc Lâu Xuân – Xuân Hận
玉楼春-春恨 绿杨芳草长亭路, 年少抛人容易去。 楼头残梦五更钟, 花底离愁三月雨。
无情不似多情苦, 一寸还成千万缕。 天涯地角有穷时, 只有相思无尽处。
Dịch nghĩa
Liễu xanh, cỏ thơm ở trường đình bên đường, Tuổi trẻ dễ dàng bỏ người lại mà đi mất. Trên lầu cao, tiếng chuông canh năm làm tỉnh giấc mộng, Dưới hoa, mưa tháng ba gợi lại nỗi sầu ly biệt.
Kẻ vô tình đâu như (đâu thấu hiểu) nỗi khổ của người đa tình, Một tấc tương tư cũng biến thành ngàn vạn sợi sầu khổ. Chân trời góc bể cũng có nơi cùng tận, Chỉ có lòng tương tư là không có kết thúc.
望庐山瀑布: Vọng Lư sơn bộc bố Tác giả: Lí Bạch
日照香炉生紫烟 遥看瀑布挂前川. 飞流直下三千尺 疑是银河落九天.
Dịch nghĩa
Nắng rọi Hương Lô khói tía bay Xa trông dòng thác trước sông này Nước bay thẳng tắp ba nghìn thước Tưởng dải ngân hà tuột khỏi mây.
春中田园作 / Xuân Trung Điền Viên Tác Tác giả: Vương Duy
Chim xuân cưu kêu trên mái nhà, Hoa hạnh trắng thông bên đang nở. Cầm rìu chặt cành vươn xa, Lấy cuốc khơi mạch suối. Chim én bay về nhận ra tổ cũ của mình, Người cũ xem lịch mới. Cầm chung rượu trên tay nhưng không uống, Xót thương người phương xa.
Vì tiếc xuân nên say mấy ngày liền Sau khi tỉnh còn thấy vết rượu trên áo xiêm Dòng nước nhỏ đã đưa hoa về khe nước khác Đám mây đem mưa đổ xuống thôn xóm lẻ loi Ở cõi nhân gian, dễ gặp những mối hận mùa thơm Chỗ đất xa xôi khó vời những mảnh hồn xưa lại Ta thẹn với ý tình nồng nàn của chim oanh Vì ta mà sáng sớm đã đến khu vườn phía tây
Còn chảy mãi lệ tương tư thẫm đỏ Hoa, liễu buồn thôi nở chốn lầu son, Không yên giấc, mưa gió ngoài song cửa sầu với sầu, tìm đến cuối hoàng hôn Nuốt chẳng trôi, những lời vàng tiếng ngọc Gương sáng soi khuôn mặt đã hao gầy Mày chau lại, mong canh thâu chóng hết Chao ôi! Non xanh thấp thoáng không ngăn được Nước biếc mênh mông trôi chẳng dừng.
断章 – Đoạn Chương Tác giả: Biện Chi Lâm
你站在桥上看春风, 看春风人在楼上看你。 明月装饰了你的窗子, 你装饰了别人的梦。
Dịch thơ
Em đứng trên cầu ngắm cảnh, Người ngắm cảnh trên cầu lại ngắm em. Ánh trăng điểm tô cửa sổ phòng em, Giấc mộng ai kia lại được em tô điểm.
Mưa nhỏ làm mọi loài cỏ nảy mầm mới, Một cơn sấm chớp bắt đầu hiện tượng kinh trập. Nhà nông được bao nhiêu ngày nhàn rỗi rồi? Nay bắt đầu cày đất và gieo hạt theo ngay hiện tượng bắt đầu này. Người lớn khoẻ mạnh đều ra đồng, Ruộng vườn đều được sửa sang. Thường trở về nhà trễ khi nắng sắp tắt, Bê, nghé uống nước nơi suối phía tây. Không thấy khổ khi đói bụng hay mệt nhọc, Chịu mưa ướt cho đất được thấm nhuần là điều vui mừng. Trong vựa, đụn chẳng có thóc lúa gì cả, Làm để trả thuế cho quan và tô cho chủ đất còn chưa đủ. Thấy điều này mới thấy hổ thẹn cho kẻ không làm ruộng như ta, Bổng lộc và cái ăn đều do làng xã cung ứng.
Tà dương hàn thảo đái trùng môn, Đài thuý doanh phô vũ hậu bồn. Ngọc thị tinh thần nan tỷ khiết, Tuyết vi cơ cốt dị tiêu hồn. Phương tâm nhất điểm kiều vô lực, Sảnh ảnh tam canh nguyệt hữu ngân. Mạc đạo cảo tiên năng vũ hoá, Đa tình bạn ngã vịnh hoàng hôn.
Nơi cổng thành nhiều khách quý, Đầy thức ngon từ bếp mang ra. Ta cùng với đôi ba người bạn, Cùng nhau bày tiệc nhỏ riêng ở một nơi trong góc thành. Đàn tranh Tần tấu điệu nước Tần, Đàn sắt Tề gảy bài ca nước Tề. Đồ ăn ngon mang ra đều hết không phải mang về, Chén rượu đầy mang tới đều cạn sạch không thừa. Ta nào có khác mọi người, Cùng bạn bè giãi tỏ tâm can. Nước lớn sẵn nhiều sản vật quý, Giống như biển có nhiều minh châu. Quân tử mang nghĩa tốt đẹp, Tiểu nhân không có đức hay. Tích nhiều việc thiện ắt sẽ gặp phúc tới, Do đó việc hưng suy có thể chờ từ trước. Quân tử coi trọng tiết lớn, Kẻ phàm chú ý nhiều việc nhỏ. Quân tử thông đạt đại đạo, tráng chí, Không ai muốn làm kẻ tục nho.
餞 故 人 – Tiễn Cố Nhân Tác giả: Chưa rõ
在 橋 餞 故 人 孤 帆 風 吹 遠 不 知 日 相 遇 冀 望 友 平 安
Dịch nghĩa
Ngay tại cầu đưa tiễn người bạn xưa Cánh buồm lẻ loi gió thổi ngày càng xa khuất Không biết ngày nào cả hai sẽ gặp lại Mong rằng bạn đi xa được bình an.
Trời xanh có vầng trăng đã bao lâu rồi? Nay ta ngừng chén hỏi trăng đây! Người thường không thể vin với được vầng trăng sáng, Trăng đi đâu thì vẫn cứ theo người. Ánh sáng trắng như gương vút tận cửa son, Khói biếc tan đi hết, để lộ vẻ trong trẻo lan tỏa ra. Chỉ thấy ban đêm trăng từ biển tới, Nào hay sớm lại tan biến giữa trời mây. Thỏ trắng giã thuốc mãi thu rồi lại xuân, Thường Nga lẻ loi cùng ai bầu bạn? Người ngày nay không thấy bóng trăng xưa. Trăng nay thì đã từng soi người xưa. Người xưa nay tựa như giòng nước chảy, Cùng ngắm vầng trăng sáng như vậy đó. Chỉ mong trong lúc ca say trước cuộc rượu, Ánh trăng cứ mãi sáng soi vào chén vàng.
別盧秦卿 – Biệt Lư Tần Khanh Tác giả: Tư Không Thự
知有前期在, 難分此夜中。 無將故人酒, 不及石尤風。
Dịch nghĩa
Đã biết trước còn có cơ hội gặp nhau Mà đêm nay vẫn khó chia lìa Thôi nâng chén rượu của bạn cũ Không kịp, ngọn gió Thạch Vưu đã nổi
Rậm rì cỏ trên đồng bằng Mỗi năm lại mỗi lần khô héo rồi tươi tốt Lửa đồng thiêu không hết Gió xuân thổi lại sinh sản ra Mơn mởn từ xa xa, lấn ra mặt đường cũ xưa Màu xanh mướt liền với bức thành hoang Lại tiễn đưa khách quý đi Xanh tươi chan chứa cả mối tình ly biệt
Cố nhân lên đường đi xa Lúc chia tay vẫn còn bịn rịn Người đi còn mong có ngày trở lại; Năm tháng ra đi, làm sao đuổi theo kịp? Hỏi thử, “năm” đi đâu? Đi xa đến một ven trời nào? Hay đã theo dòng nước chảy xuôi về đông, Đổ vào biển và không bao giờ trở lại? Xóm đông, rượu vừa chín; Nhà mé tây, lợn nái cũng vừa mập thêm ra Hãy cứ vui cho hết trọn một ngày Để bù lại trọn một năm đầy sầu héo. Đừng quên giã từ một năm cũ, Và hãy để cho năm cũ giã từ năm mới. Bảo nó hãy đi đi, đừng có quay đầu lại. Gởi trả lại nó tuổi già và sức yếu kém.
黄鹤楼送孟浩然之广陵 – Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Tác giả: Lý Bạch
故人西辞黄鹤楼, 烟花三月下扬州。 孤帆远影碧空尽, 惟见长江天际流。
Dịch nghĩa
Bạn cũ ra đi từ phía Tây lầu Hoàng Hạc Giữa mùa hoa khói tháng ba xuống Dương Châu Bóng hình cánh buồm đơn độc lẫn vào mây biếc đã khuất Từ trên lầu chỉ còn thấy sông Trường Giang chảy về chân trời
Cuối cùng là chùm Thơ Trung Quốc Về Hoa Lệ Đặc Sắc và mang nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau, cùng đón đọc bài thơ để cảm nhận rõ hơn về những tâm tư tình cảm tác giả gửi gắm vào từng câu thơ.
感春 – Cảm xuân Tác giả: Nhung Dục
看花淚盡知春盡, 魂斷看花只恨春。 名位未沾身欲老, 詩書寧救眼前貧。
Dịch nghĩa
Khán hoa lệ tận tri xuân tận, Hồn đoạn khan hoa chỉ hận xuân. Danh vị vị triêm thân dục lão, Thi thư ninh cứu nhãn tiền bần.