Tuyển Tập 44+ Bài Thơ Hán Việt Về Cuộc Sống, Trăng, Cố Nhân, Rượu… Hay Nhất Nhiều Chủ Đề Dành Tặng Bạn Đọc.
NỘI DUNG CHÍNH
Thơ Hán Việt Là Gì ?
Thơ Hán Việt là thể loại thơ được viết bằng chữ Hán nhưng đọc theo âm Hán Việt, tức là các từ ngữ trong tiếng Việt vay mượn từ tiếng Hán (Trung Quốc) nhưng được ghi bằng chữ cái La tinh. Thơ Hán Việt thường xuất hiện trong văn học cổ điển Việt Nam và được sử dụng bởi nhiều nhà thơ nổi tiếng như Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, và Hồ Xuân Hương.
Đặc điểm của thơ Hán Việt
Ngôn ngữ:
Sử dụng chữ Hán nhưng đọc theo âm Hán Việt.
Ngôn từ trang nhã, mang đậm tính cổ điển và văn hóa Á Đông.
Thể loại:
Thơ Hán Việt thường được viết theo các thể thơ Đường luật như thất ngôn bát cú, ngũ ngôn tứ tuyệt, v.v.
Nội dung:
Thơ Hán Việt thường miêu tả thiên nhiên, tình yêu, lòng yêu nước, và các triết lý sống.
Thể hiện tâm trạng, cảm xúc của tác giả qua những hình ảnh và biểu tượng phong phú.
Dưới đây là một bài thơ Hán Việt nổi tiếng của Nguyễn Du:
Ngã dục tòng quân chinh, Hà nhật phục lai kinh? Tương tư vô hạn sự, Trường đoạn nhất thanh ca.
Dịch nghĩa:
Ta muốn theo quân chinh chiến, Ngày nào mới trở về kinh đô? Nỗi nhớ vô hạn, Đứt ruột vì một tiếng ca.
Thơ Hán Việt không chỉ là một phần quan trọng của văn học Việt Nam mà còn là cầu nối văn hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về lịch sử và văn hóa của hai dân tộc.
Thông thường thơ Hán Việt được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú, là loại thơ mỗi bài có tám câu và mỗi câu bảy chữ. Ngoài ra có những trường hợp theo thể thơ khác.
Thông thường, thơ thất ngôn bát cú có thể làm theo 2 cách thông dụng:
Thất ngôn bát cú theo Đường luật: Có quy luật nghiêm khắc về Luật, Niêm và Vần thường có bố cục rõ ràng.
Thất ngôn bát cú theo Cổ phong: Không theo quy luật rõ ràng, có thể dùng một vần (độc vận) hay nhiều vần (liên vận) nhưng vần vẫn phải thích ứng với quy luật âm thanh, có nhịp bằng trắc xen nhau cho dễ đọc.
Để biết Cách Làm Thơ Hán Việt Đơn Giản bạn hãy tham khảo qua những bài thơ được gợi ý sau đây.
路上 – Lộ thượng Tác giả: Hồ Chí Minh
脛臂雖然被緊綁, 滿山鳥語與花香。 自由覽賞無人禁, 賴此征途減寂涼。
Phiên âm Hán Việt
Hĩnh tí tuy nhiên bị khẩn bang Mãn sơn điểu ngữ dữ hoa hương Tự do lãm thưởng vô nhân cấm Lại thử chinh đồ giảm tịch lương.
Dịch nghĩa
Mặc dù chân tay bị trói chặt, Nhưng đầy núi chim hót và hoa thơm; Tự do thưởng ngoạn, không ai cấm được,
街上 – Nhai thượng Tác giả: Hồ Chí Minh
街上人爭看漢奸, 漢奸與我本無干。 無干仍是嫌疑犯, 使我心中覺點寒。
Phiên âm Hán Việt
Nhai thượng nhân tranh khán Hán gian, Hán gian dữ ngã bản vô can. Vô can nhưng thị hiềm nghi phạm, Sử ngã tâm trung giác điểm hàn.
Dịch nghĩa
Trên đường phố mọi người tranh nhau xem Hán gian, Hán gian vốn chẳng liên can gì với ta; Nhưng không liên can mà vẫn là người tù bị tình nghi, Khiến lòng ta cảm thấy có chút ghê lạnh.
黃昏 – Hoàng hôn Tác giả: Hồ Chí Minh
風如利劍磨山石, 寒似尖鋒刺樹枝。 遠寺鐘聲催客步, 牧童吹笛引牛歸。
Phiên âm Hán Việt
Phong như lợi kiếm ma sơn thạch, Hàn tự tiêm phong thích thụ chi; Viễn tự chung thanh thôi khách bộ, Mục đồng xuy địch dẫn ngưu quy.
Dịch nghĩa
Gió như gươm sắc mài đá núi, Rét như giáo nhọn chích cành cây; Tiếng chuông chùa xa giục bước chân khách, Trẻ chăn trâu thổi sáo dẫn trâu về.
Khứ niên hổ huyệt ngã tằng khuy ; Long đại kim quan thạch huyệt kỳ. Ngao phụ xuất sơn sơn hữu động ; Kình du tắc hải hải vi trì. Hồ trung nhật nguyệt thiên nan lão ; Thế thượng anh hùng thử nhất thì. Lê Phạm phong lưu ta tiệm viễn, Thanh đài bán thực bích gian thi.
Dịch nghĩa
Năm trước hang cọp ta đã từng xem, Nay lại xem hang đá kỳ Long-đại (động rồng). Con ngao đội núi lên, núi có động Cá kình bơi lấp biển, biển thành ao. Nhật nguyệt trong bầu, cảnh trời khó già, Anh hùng trên đời, đấy là một thuở. Phong lưu của họ Lê họ Phạm, than ôi đã xa dần ; Rêu xanh đã gặm hết nửa thơ trên vách đá.
Bất mị thính hàn canh, Hàn canh bất khẳng tận. Quan san dẫn mộng trường, Châm chử thôi hàn cận. Phế táo tụ hà ma, Thâm đường xuất khâu dận. Ám tụng “Thiên vấn” chương, Thiên cao hà xứ vấn?
Dịch nghĩa
Không ngủ nằm nghe tiếng trống canh trong đêm lạnh. Trong đêm lạnh, trống canh điểm không thôi. Quan san làm giấc mộng dài thêm, Tiếng chày nện vải càng giục hơi lạnh đến gần. Cóc nhái tụ họp quanh bếp, Giun từ góc sâu trong nhà bò ra. Thầm đọc bài ca hỏi trời, Trời cao, biết đâu mà hỏi?
Đề Bá Nha cổ cầm đồ – 題伯牙鼓琴圖 Tác giả: Nguyễn Trãi
鐘期不作鑄金難 獨抱瑤琴對月彈 靜夜碧宵涼似水 一聲鶴唳九皋寒
Phiên âm Hán Việt
Chung Kỳ bất tác chú kim nan Độc bão dao cầm đối nguyệt đàn. Tĩnh dạ bích tiêu lương tự thủy ; Nhất thanh hạc lệ cửu cao hàn.
Dịch nghĩa
Không làm được Chung Kỳ vì đúc vàng khó ; Một mình ôm đàn ngọc đối trăng mà đàn. Đêm lặng vòm trời biếc lạnh như nước, Một tiếng hạc rít lạnh ngắt ở chín chằm.
昭君 – Chiêu Quân Tác giả: Cao Bá Quát
漢朝莫殺毛延壽, 塞上胡笳只自悲。 兒女總多腸斷處, 古今終有貌來時。
Phiên âm Hán Việt
Hán triều mạc sát Mao Diên Thọ, Tái thượng Hồ già chỉ tự bi. Nhi nữ tổng đa trường đoạn xứ, Cổ kim chung hữu mạo lai thì.
Vân tế sơn Tam Điệp, Thiên nhai khách tái du. Nhãn trung thu đại địa, Hải ngoại kiến ngư chu. Chướng tĩnh phong loan sấu, Thiên hàn thảo mộc thu. Hành nhân hồi khán xứ, Vô ná cố hương sầu.
過京瑤祠懷古 – Quá Khinh Dao từ hoài cổ Tác giả: Hồ Xuân Hương
Sơn hải tang bồng cổ dĩ lai, Trường đồ trước cước sạ quan hoài. Đình tiền tượng mã ngân song toả, Cung lý y quan ngọc nhất đôi. Thảo mộc ám tuỳ đông tuyết lão, Giang sơn hoàn vị tích nhân ai. Hoàng thiên hữu ý khai tân vận, Phong quyển hồng trần phất kiếp hôi.
Sơn cư thu minh Không sơn tân vũ hậu, Thiên khí vãn lai thu. Minh nguyệt tùng gian chiếu, Thanh tuyền thạch thượng lưu. Trúc huyên quy hoán nữ, Liên động há ngư chu. Tùy ý xuân phương yết, Vương tôn tự khả lưu.
Dịch nghĩa
Ngọn núi vắng sau cơn mưa Thời tiết ban đêm đã là thu rồi Ánh trăng sáng chiếu qua rừng cây tùng Suối nước xanh chảy trên đá Nghe có tiếng trúc xào xạc mấy cô đi giặt áo về Tiếng lá sen xao động có người hạ thuyền xuống Tùy ý, hương xuân đã hết Các vương tôn muốn ở lại thì tự nhiên
Lão nông gia bần tại sơn trú, Canh chủng sơn điền tam tứ mẫu. Miêu sơ thuế đa bất đắc thực, Thâu nhập quan thương hoá vi thổ. Tuế mộ sừ lê bàng không thất, Hô nhi đăng sơn thu tượng thực. Tây Giang cổ khách châu bách hộc, Thuyền trung dưỡng khuyển trường thực nhục.
Dịch nghĩa
Ông lão nhà nghèo ở trong núi, Cày cấy đất núi được ba bốn mẫu. Lúa ít đóng thuế nhiều nên không có lúa để ăn, Gom về kho quan để mốc thành đất. Cuối năm, cày bừa để dựa góc nhà trống không, Ông kêu con cháu lên núi hái hạt dẻ rừng về ăn. Nhà buôn ở Tây Giang kho báu có cả trăm hộc, Chó nuôi trên thương thuyền ngày nào cũng có thịt ăn.
Sơn trung quả phụ Phu nhân binh tử thủ bồng mao, Ma trữ y sam mấn phát tiêu. Tang giá phế lai do nạp thuế, Điền viên hoang hậu thượng chinh miêu. Thì khiêu dã thái hòa căn chử, Toàn chước sinh sài đới diệp thiêu. Nhậm thị thâm sơn canh thâm sứ, Dã ưng vô kế tỵ chinh đao.
Dịch nghĩa
Chồng chết trận,một mình giữ nếp nhà tranh Áo bằng gai, đầu tóc vàng khè Việc tằm tang bỏ hoang rồi,thuế vẫn phải nộp Ruộng vườn không trồng trọt,còn bị đòi thuế thóc lúa Bửa ăn thường hái rau dại nấu cả rễ Thiếu củi,đem cành tươi vừa chặt được,để cả lá mà đốt Dù vào tận núi sâu,càng sâu hơn nữa Cũng không cách nào trốn khỏi đóng thuế đi phu.
Xuân trung điền viên tác Ốc thượng xuân cưu minh, Thôn biên hạnh hoa bạch. Trì phủ phạt viễn dương, Hà sừ chiêm tuyền mạch. Quy yến thức cố sào, Cựu nhân khán tân lịch. Lâm thương hốt bất ngự, Trù trướng viễn hành khách.
Dịch nghĩa:
Chim xuân cưu kêu trên mái nhà, Hoa hạnh trắng thông bên đang nở. Cầm rìu chặt cành vươn xa, Lấy cuốc khơi mạch suối. Chim én bay về nhận ra tổ cũ của mình, Người cũ xem lịch mới. Cầm chung rượu trên tay nhưng không uống, Xót thương người phương xa.
Vi vũ chúng huỷ tân, Nhất lôi kinh trập thuỷ. Điền gia kỷ nhật nhàn? Canh chủng tòng thử thuỷ. Đinh tráng câu tại dã, Trường phố diệc tựu lý. Qui lai cảnh thường yến, Ẩm độc tây giản thuỷ. Cơ cù bất tự khổ, Cao trạch thả vi hỉ. Thương lẫm vô túc trừ, Dao dịch do vị dĩ. Phương tàm bất canh giả, Lộc thực xuất lư lý.
Dịch nghĩa
Mưa nhỏ làm mọi loài cỏ nảy mầm mới, Một cơn sấm chớp bắt đầu hiện tượng kinh trập. Nhà nông được bao nhiêu ngày nhàn rỗi rồi? Nay bắt đầu cày đất và gieo hạt theo ngay hiện tượng bắt đầu này. Người lớn khoẻ mạnh đều ra đồng, Ruộng vườn đều được sửa sang. Thường trở về nhà trễ khi nắng sắp tắt, Bê, nghé uống nước nơi suối phía tây. Không thấy khổ khi đói bụng hay mệt nhọc, Chịu mưa ướt cho đất được thấm nhuần là điều vui mừng. Trong vựa, đụn chẳng có thóc lúa gì cả, Làm để trả thuế cho quan và tô cho chủ đất còn chưa đủ. Thấy điều này mới thấy hổ thẹn cho kẻ không làm ruộng như ta, Bổng lộc và cái ăn đều do làng xã cung ứng.
Cập nhật thêm Những Câu Thơ Hán Việt Hay Về Cuộc Sống sau đây nhé!
关雎 – Thuộc Thư Kinh
关关雎鸠、 在河之洲。 窈窕淑女、 君子好逑。
Hán Việt:
Quan quan thư cưu, Tại hà chi châu. Yểu điệu thục nữ, Quân tử hảo cầu.
Dịch nghĩa:
Đôi chim thư cưu hót hoạ nghe quan quan, Ở trên cồn bên sông. Người thục nữ u nhàn, Phải là lứa tốt của bậc quân tử (vua).
思归 / Tư Quy – Vương Bột
长江悲已滞, 万里念将归。 况属高风晚, 山山黄叶飞。
Hán Việt:
Trường Giang bi dĩ trệ, Vạn lý niệm tương quy. Huống thuộc cao phong vãn, Sơn sơn hoàng diệp phi.
Dịch nghĩa:
Nỗi thương đau đã lắng đọng trên sông Trường Giang, Ở nơi xa muôn dặm mong nhớ lúc trở về. Huống hồ đương lúc cuối thu, Lá vàng tung bay trên núi non trùng điệp.
Gợi ý thêm đến bạn chùm Thơ Hán Việt Về Cuộc Đời Sâu Sắc và đầy cảm xúc dưới đây:
晚 – Vãn Tác giả: Hồ Chí Minh
晚餐吃了日西沉, 處處山歌與樂音。 幽暗靖西禁閉室, 忽成美術小翰林。
Phiên âm Hán Việt
Vãn xan ngật liễu nhật tây trầm, Xứ xứ sơn ca dữ nhạc âm. U ám Tĩnh Tây cấm bế thất, Hốt thành mỹ thuật tiểu hàn lâm.
Dịch nghĩa
Cơm chiều xong, mặt trời lặn về tây, Khắp nơi, rộn tiếng ca dân dã và tiếng nhạc; Nhà ngục u ám huyện Tĩnh Tây, Bỗng thành một viện hàn lâm nghệ thuật nhỏ.
Vân tế sơn Tam Điệp, Thiên nhai khách tái du. Nhãn trung thu đại địa, Hải ngoại kiến ngư chu. Chướng tĩnh phong loan sấu, Thiên hàn thảo mộc thu. Hành nhân hồi khán xứ, Vô ná cố hương sầu.
悯农 – Mẫn Nông Tác giả: Lí Thân
锄禾日当午,汗滴禾下土. 谁知盘中餐,粒粒皆辛苦?
Dịch âm Hán Việt
Sừ hòa nhật đương ngọ, hãn trích hòa hạ thổ Thùy tri bàn trung xan, lạp lạp giai tân khổ
Dịch thơ
Cày đồng đang buổi ban trưa Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày. Ai ơi, bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần!
Bốc Toán Tử Ngã trú Trường Giang đầu, Quân trú Trường Giang vĩ. Nhật nhật tư quân bất kiến quân, Cộng ẩm Trường Giang thủy. Thử thủy kỷ thời hưu? Thử hận hà thời dĩ? Chỉ nguyện quân tâm tự ngã tâm, Định bất phụ tương tư ý.
Dịch nghĩa
Thiếp ở đầu Trường Giang, Chàng ở cuối Trường Giang. Ngày ngày nhớ chàng chẳng thấy chàng, Cùng uống nước Trường Giang. Dòng sông này bao giờ ngừng trôi? Nỗi hận này bao giờ mới hết? Chỉ mong lòng chàng như lòng thiếp, Nhất định không phụ nỗi niềm nhớ nhau.
Ngai như sơn thượng tuyết, Kiểu nhược vân gian nguyệt. Văn quân hữu lưỡng ý, Cố lai tương quyết tuyệt. Kim nhật đấu tửu hội, Minh đán câu thủy đầu. Tiệp điệp ngự câu thượng, Câu thủy đông tây lưu.
Dịch nghĩa
Trắng như tuyết trên núi, Sáng như trăng ở trong mây. Nghe lòng chàng có hai ý, Nên thiếp quyết cắt đứt. Ngày hôm nay nâng chén sum vầy, Sớm mai đã đưa tiễn nhau ở bên sông. Đi lững thững trên dòng nước, Nước cứ chảy xuôi mãi từ đồng về tây.
玉楼春-春恨 / Ngọc Lâu Xuân – Xuân Hận
玉楼春-春恨 绿杨芳草长亭路, 年少抛人容易去。 楼头残梦五更钟, 花底离愁三月雨。
无情不似多情苦, 一寸还成千万缕。 天涯地角有穷时, 只有相思无尽处。
Phiên âm Hán Việt
Liễu xanh, cỏ thơm ở trường đình bên đường, Tuổi trẻ dễ dàng bỏ người lại mà đi mất. Trên lầu cao, tiếng chuông canh năm làm tỉnh giấc mộng, Dưới hoa, mưa tháng ba gợi lại nỗi sầu ly biệt.
Kẻ vô tình đâu như (đâu thấu hiểu) nỗi khổ của người đa tình, Một tấc tương tư cũng biến thành ngàn vạn sợi sầu khổ. Chân trời góc bể cũng có nơi cùng tận, Chỉ có lòng tương tư là không có kết thúc.
Cao lâu trùng trùng bế minh nguyệt, Trường đoạn tiên lang cách niên biệt. Tử tiêu hoành địch tịch vô thanh, Độc hướng dao song toạ sầu tuyệt. Ngư trầm nhạn diểu thiên nhai lộ, Thuỷ tín nhân gian biệt ly khổ. Hận mãn nha sàng phí thuý khâm, Oán chiết kim thoa phụng hoàng cổ. Tỉnh thâm lộc lư ta cảnh đoản, Y đới tương tư nhật ưng hoãn. Tương đao phá thuỷ thuỷ phục liên, Huy nhẫn cát tình tình bất đoạn. Lạc hồng loạn trục đông lưu thuỷ, Nhất điểm phương tâm vị quân tử. Thiếp thân nguyện tác Vu Sơn vân, Phi nhập tiên lang mộng hồn lý.
Dịch nghĩa
Lầu cao lớp lớp che trăng sáng, Đau lòng vì suốt năm xa cách chàng. Tiêu im sáo lặng không nghe tiếng, Một mình ngồi buồn nhìn ra song cửa ngọc. Cá lặn chim bay chân trời góc biển, Biệt ly không được tin thư thật khổ. Oán đầy giường ngà chăn phí thuý, Giận bẻ gãy kim thoa phượng hoàng. Giếng sâu ròng rọc than giây ngắn, Ngày trôi chậm, xiêm y cũng nặng tương tư. Dùng dao chém nước nước liền trở lại, Cầm kéo cắt tình tình không chịu đứt. Hồng rụng tơi bời theo dòng nước chảy về đông, Một tấm tình son vì người mà tàn lụi. Thiếp nguyện làm mây núi Vu (Sơn), Bay nhập vào giấc mộng trong hồn chàng.
Chia sẻ đến bạn đọc những Thơ Hán Việt Về Tình Yêu Đơn Phương chan chứa tình cảm sau đây:
秋风词 /Thu Phong Từ/ Tác giả: Lý Bạch
秋风词 秋风清, 秋月明。 落叶聚还三, 寒鸦栖复惊。 相思相见知何日, 此时此夜难为情。
Phiên âm Hán Việt
Thu phong từ Thu phong thanh, Thu nguyệt minh. Lạc diệp tụ hoàn tán, Hàn nha thê phục kinh. Tương tư, tương kiến tri hà nhật, Thử thì thử dạ nan vi tình.
Dịch nghĩa
Gió thu thanh, Trăng thu sáng. Lá rụng lúc tụ lúc tán, Quạ lạnh đang đậu bỗng rùng mình. Nhớ nhau không biết ngày nào gặp, Lúc ấy đêm ấy chan chứa tình.
相思 /Tương Tư/ Tác giả: Vương Duy
作者 – 王维 – 唐 红豆生南国, 春来发几枝? 愿君多采撷, 此物最相思!
Phiên âm Hán Việt
Hồng đậu sinh nam quốc, Xuân lai phát kỷ chi. Nguyện quân đa thái hiệt, Thử vật tối tương tư.
Dịch nghĩa
Nước nam sinh đậu đỏ, Xuân về nở cành xinh. Chàng ơi hái nhiều nhé, Nhớ nhau tha thiết tình.
断章 /Đoạn Chương/ Tác giả: Biện Chi Lâm
你站在桥上看春风, 看春风人在楼上看你。 明月装饰了你的窗子, 你装饰了别人的梦。
Phiên âm Hán Việt
Em đứng trên cầu ngắm phong cảnh, Người đứng trên lầu ngắm phong cảnh lại ngắm nhìn em. Trăng sáng tô điểm cửa sổ phòng em, Em tô điểm giấc mộng của người.
Dịch thơ
Em đứng trên cầu ngắm cảnh, Người ngắm cảnh trên cầu lại ngắm em. Ánh trăng điểm tô cửa sổ phòng em, Giấc mộng ai kia lại được em tô điểm.
Cố nhân cụ kê thử, Yêu ngã chí điền gia. Lục thụ thôn biên hợp, Thanh sơn quách ngoại tà. Khai hiên diện trường phố, Bả tửu thoại tang ma. Đãi đáo trùng dương nhật, Hoàn lai tựu cúc hoa.
Dịch nghĩa
Người bạn cũ bày biện cơm gà, Mời ta đến chơi nhà ở nơi vườn ruộng. Đám cây xanh mọc thành cụm ở quanh làng, Ngọn núi xanh nghiêng nghiêng bên ngoài thành quách. Ra ngoài hiên đối diện với vườn rau quả, Nâng chén rượu nói toàn những chuyện trồng dâu trồng gai. Hẹn nhau đến ngày trùng dương, Sẽ trở lại nơi này để chơi hoa cúc.
餞 故 人 – Tiễn Cố Nhân Tác giả: Chưa rõ
在 橋 餞 故 人 孤 帆 風 吹 遠 不 知 日 相 遇 冀 望 友 平 安
Phiên âm Hán Việt
Tại kiều tiễn cố nhân Cô phàm phong xuy viễn Bất tri nhật tương ngộ Kí vọng hữu bình yên.
Dịch nghĩa
Ngay tại cầu đưa tiễn người bạn xưa Cánh buồm lẻ loi gió thổi ngày càng xa khuất Không biết ngày nào cả hai sẽ gặp lại Mong rằng bạn đi xa được bình an.
Vô tâm sự xuất ngộ nhân đa, Kim nhật tuơng khan khổ tự ta. Nhất tiếu tình đa lưu lãnh lệ, Song mầu xuân tận hiện hình hoa. Thử sinh nguyện tác can huynh muội, Tái thế ưng đồ tốn thất gia. Ngã bất phụ nhân, nhân phụ ngã Túng nhiên như thử nại chi hà?
Dịch nghĩa
Vô tình gặp lại người xưa Nhìn nhau, ôi cũng là vừa khổ đau Nụ cuời chan chứa lệ sầu, Người hoa vẫn nét ban đầu vóc tiên Kiếp này tạm nghĩa ANH – EM, Đời sau quyết nối khúc duyên gia đình Cho dù EM có quên ANH Giờ đây là vậy, biết đành nói sao ?
Thơ Hán Việt Về Thầy Cô Ý Nghĩa
Giới thiệu thêm đến bạn đọc chùm Thơ Hán Việt Về Thầy Cô Ý Nghĩa nhất sau đây:
徒 道 – Đạo Học Trò Tác giả: Chưa rõ
師 徒 恩 義 重 成 道 早 立 功 榮 華 和 富 貴 留 心 義 莫 忘
Phiên âm Hán Việt
Sư đồ ân nghĩa trọng Thành đạo tảo lập công Vinh hoa hòa phú quý Lưu tâm nghĩa mạc vong.
Dịch nghĩa
Thầy trò ân nghĩa sâu nặng Thành tài sớm lập công danh Sống đời vinh hoa phú quý Khắc ghi lòng chữ Nghĩa đừng quên.
見 我 師 – Kiếp ngã Sư Tác giả: Chưa rõ
回 鄉 見 我 師 他 今 已 白 頭 相 見 不 能 說 相 感 別 亦 難
Phiên âm Hán Việt
Hồi hương kiến ngã sư Tha kim dĩ bạch đầu Tương kiến bất năng thuyết Tương cảm biệt diệc nan.
Dịch nghĩa
Về quê, gặp lại thầy tôi Nay mái tóc thầy đã bạc trắng Thầy trò nhìn nhau mà không nói nên lời Cùng dâng trào cảm xúc và thật khó khi phải nói lời chia tay.
Giang Hán tằng vi khách Tương phùng mỗi túy hoàn Phù vân nhất biệt hậu Lưu thủy thập niên gian Hoan tiếu tình như cựu Tiêu sơ phát dĩ ban Hà nhân bất qui khứ Hoài thượng đối thu san.
Dịch nghĩa
Trên sông Hoài mừng gặp bạn cũ đất Lương Xuyên Từng làm khách tại Giang Hán Mỗi lần gặp nhau uống rượu say mới về Sau khi chia tay, đời như mây trôi Thời gian như nước chảy, thấm thoắt đã mười năm Gặp lại nhau vui cười, tình vẫn như xưa Mái tóc đã điểm bạc Vì nguyên cớ gì không trở về Trên sông Hoài nhìn về núi mùa thu.
Thưởng thức thêm chùm Thơ Hán Việt Về Tình Bạn Chọn Lọc được nhiều bạn đọc quan tâm đến sau đây:
黄鹤楼送孟浩然之广陵 – Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng Tác giả: Lý Bạch
故人西辞黄鹤楼, 烟花三月下扬州。 孤帆远影碧空尽, 惟见长江天际流。
Phiên âm Hán Việt
Cố nhân tây từ Hoàng Hạc lâu, Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu. Cô phàm viễn ảnh bích không tận, Duy kiến Trường Giang thiên tế lưu.
Dịch nghĩa
Bạn cũ ra đi từ phía Tây lầu Hoàng Hạc Giữa mùa hoa khói tháng ba xuống Dương Châu Bóng hình cánh buồm đơn độc lẫn vào mây biếc đã khuất Từ trên lầu chỉ còn thấy sông Trường Giang chảy về chân trời
涪江泛舟送韋班歸京 – Bồi Giang Phiếm Chu Tống Vi Ban Quy Kinh Tác giả: Đỗ Phủ
Truy tiễn đồng chu nhật Thương xuân nhất thủy gian Phiêu linh vi khách cửu Suy lão tiện quân hoàn Hoa viễn trùng trùng thụ Vân khinh xứ xứ sơn Thiên nhai cố nhân thiểu Cánh ích mấn mao ban.
Dịch nghĩa
Sông Bồi dong thuyền đưa Vi Ban về kinh Ngày ngồi chung thuyền mở tiệc tiễn đưa Giữa dòng nước cùng thương cảnh xuân Đã bao lâu, thân khách lênh đênh Già yếu rồi mừng gặp bạn trở lại Hoa xa xa cây cối trùng điệp Mây lơ lửng trên đỉnh núi khắp nơi Chân trời xa hiếm bạn cũ Mái tóc càng bạc hơn
赋得古原草送别 – Phú Ðắc Cổ Nguyên Thảo Tống Biệt Tác giả: Bạch Cư Dị
Ly ly nguyên thượng thảo Nhất tuế nhất khô vinh Dã hỏa thiêu bất tận Xuân phong xuy hựu sinh Viễn phương xâm cổ đạo Tình thúy tiếp hoang thành Hựu tống vương tôn khứ Thê thê mãn biệt tình
Dịch nghĩa
Rậm rì cỏ trên đồng bằng Mỗi năm lại mỗi lần khô héo rồi tươi tốt Lửa đồng thiêu không hết Gió xuân thổi lại sinh sản ra Mơn mởn từ xa xa, lấn ra mặt đường cũ xưa Màu xanh mướt liền với bức thành hoang Lại tiễn đưa khách quý đi Xanh tươi chan chứa cả mối tình ly biệt
Gửi tặng bạn đọc chùm Thơ Hán Việt Về Mỹ Nhân Ngắn Hay và đặc sắc nhất dưới đây, đừng bỏ lỡ nhé!
美人對月 – Mỹ nhân đối nguyệt Tác giả: Đường Dần
斜髻嬌娥夜臥遲, 梨花風靜鳥栖枝。 難將心事和人說, 說與青天明月知。
Phiên âm Hán Việt
Tà kết kiều nga dạ ngoạ trì, Lê hoa phong tĩnh điểu thê chi. Nan tương tâm sự hoà nhân thuyết, Thuyết dữ thanh thiên minh nguyệt tri.
Dịch nghĩa
Người con gái đẹp, búi tóc xiên lệch, đêm ngần ngại chưa nằm xuống, Gió lặng, chim đậu lên cành hoa lê. Tâm sự trong lòng khó đem nói cùng người, Đành nói với trăng sáng trên trời.
Mỹ nữ yêu thả nhàn, Thái tang kỳ lộ gian. Nhu điều phân nhiễm nhiễm, Lạc diệp hà phiên phiên. Nhương tụ kiến tố thủ, Hạo oản ước kim hoàn. Đầu thượng kim tước thoa, Yêu bội thuý lang can. Minh châu giao ngọc thể, San hô gian mộc nan. La y hà phiêu diêu, Khinh cứ tuỳ phong hoàn. Cố phán di quang thái, Trường khiếu khí nhược lan. Hành đồ dụng tức giá, Hưu giả dĩ vong xan. Tá vấn nữ an cư, Nãi tại thành nam đoan. Thanh lâu lâm đại lộ, Cao môn kết trùng quan. Dung hoa diệu triêu nhật, Thuỳ bất hy lệnh nhan. Môi thị hà sở dinh, Ngọc bạch bất thì an. Giai nhân mộ cao nghĩa, Cầu hiền lương độc nan. Chúng nhân đồ ngao ngao, An tri bỉ sở quan. Thịnh niên xử phòng thất, Trung dạ khởi trường thán.
陌上贈美人 – Mạch thượng tặng mỹ nhân Tác giả: Lý Bạch
駿馬驕行踏落花, 垂鞭直拂五雲車。 美人一笑褰珠箔, 遙指紅樓是妾家。
Phiên âm Hán Việt
Mạch thượng tặng mỹ nhân Tuấn mã kiêu hành đạp lạc hoa, Thuỳ tiên trực phất ngũ vân xa. Mỹ nhân nhất tiếu niêm châu bạc, Dao chỉ hồng lâu thị thiếp gia.
Dịch nghĩa
Tuấn mã kiêu hùng đi giẫm trên những đoá hoa rụng Buông roi xuống đánh một cái vào chiếc xe ngũ vân Người đẹp mỉm cười, vén rèm châu lên Chỉ tay về phía xa, nói lầu hồng đấy là nhà thiếp
Hắc dạ thiều quang hà xứ tầm? Tiểu song khai xứ liễu âm âm. Giang hồ bệnh đáo kinh thì cửu, Phong vũ xuân tuỳ nhất dạ thâm. Kỳ lữ đa niên đăng hạ lệ, Gia hương thiên lý nguyệt trung tâm. Nam Đài thôn ngoại Long giang thuỷ, Nhất phiến hàn thanh tống cổ câm (kinh).
Dịch nghĩa
Trời tối đen, tìm đâu thấy cảnh xuân tươi sáng? Qua khuôn cửa sổ nhỏ, chỉ thấy bóng liễu âm u. Trong bước giang hồ, lại phải nằm bệnh lâu ngày, Cuộc đời có khác gì vẻ xuân theo mưa gió chìm trong bóng đêm. Ở đất khách lâu năm, ngồi dưới bóng đèn mà rơi lệ. Quê hương xa nghìn dặm, nhìn trăng mà đau lòng. Ở đó, phía ngoài thôn Nam Đài, tiếng sóng lòng sông Long Giang Vẫn lạnh lùng tiễn đưa kim cổ.
春 景 – Xuân Cảnh Tác giả: Trần Nhân Tông
楊柳花深鳥語遲, 畫堂簷影暮雲飛。 客來不問人間事, 共倚欄杆看翠微。
Phiên âm Hán Việt
Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì, Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi. Khách lai bất vấn nhân gian sự, Cộng ỷ lan can khán thúy vi.
Dịch nghĩa
Trong khóm hoa dương liễu rậm rạp, tiếng chim hót lời chậm rãi, Dưới bóng hiên nhà trưng bày tranh vẽ, bóng mây chiều lướt bay. Khách đến chơi không hỏi việc đời, Cùng đứng tựa lan can ngắm màu xanh biếc trên trời.
Nước phá tan, núi sông còn đó, Đầy thành xuân cây cỏ rậm sâu. Cảm thời hoa rỏ dòng châu Biệt ly tủi giận, chim đau nỗi lòng. Ba tháng khói lửa ròng không ngớt, Bức thư nhà, giá đắt bạc muôn. Gãi đầu tóc bạc ngắn ngun, Dường như hết thảy, e khôn búi tròn.
望庐山瀑布: Vọng Lư sơn bộc bố Tác giả: Lí Bạch
日照香炉生紫烟,遥看瀑布挂前川. 飞流直下三千尺,疑是银河落九天.
Phiên âm Hán Việt
Xa ngắm thác núi Lư Nắng rọi Hương Lô khói tía bay Xa trông dòng thác trước sông này Nước bay thẳng tắp ba nghìn thước Tưởng dải ngân hà tuột khỏi mây.
Tuyển chọn những bài Thơ Hán Việt Về Trăng Đặc Sắc sau đây để giới thiệu rộng rãi đến các bạn đọc quan tâm chủ đề này.
題巴蒙洞 – Đề Ba Mông động Tác giả: Hồ Chí Minh
日出東方一點紅, 峨眉鳳眼似彎弓。 滿天星斗零丁吊, 烏雲蓋月暗朦朧。
Phiên âm Hán Việt
Nhật xuất đông phương nhất điểm hồng, Nga my phụng nhãn tự loan cung. Mãn thiên tinh đẩu linh đinh điếu, Ô vân cái nguyệt ám mông lung.
Dịch nghĩa
Mặt trời mọc, phương Đông hiện lên một điểm hồng, Như mắt phượng mày ngài cong vút của người đẹp. Khắp trời đêm chỉ có một ngôi sao lẻ loi treo lơ lửng, Mây đen che mờ mặt trăng khiến bầu trời u ám.
對月 – Đối nguyệt Tác giả: Hồ Chí Minh
窗外月明籠古樹, 月移樹影到窗前。 軍機國計商談了, 攜枕窗旁對月眠。
Phiên âm Hán Việt
Song ngoại nguyệt minh lung cổ thụ, Nguyệt di thụ ảnh đáo song tiền, Quân cơ, quốc kế thương đàm liễu, Huề chẩm song bàng đối nguyệt miên.
Dịch nghĩa
Ngoài cửa sổ ánh trăng lồng trên cây cổ thụ, Ánh trăng nhích dần bóng cổ thụ lại trước cửa sổ. Việc quân, việc nước bàn bạc xong rồi, Xách gối đến bên cửa sổ, nằm ngủ trước ánh trăng.
離北京 – Ly Bắc Kinh Tác giả: Hồ Chí Minh
冀北天心懸皓月, 心隨皓月共悠悠。 皓月誰分為兩半, 半隨舊友半征夫。
Phiên âm Hán Việt
Ký Bắc thiên tâm huyền hạo nguyệt, Tâm tuỳ hạo nguyệt cộng du du. Hạo nguyệt thuỳ phân vi lưỡng bán, Bán tuỳ cựu hữu, bán chinh phu.
Dịch nghĩa
Giữa lòng trời Ký Bắc treo vầng trăng sáng trắng, Lòng ta theo trăng sáng cùng man mác. Vầng trăng sáng kia ai chia làm hai nửa, Một nửa theo cùng bạn cũ, một nửa soi khách đường trường.
静夜思 – Tĩnh Dạ Tư Tác giả: Lí Bạch
床前明月光,疑是地上霜. 举头望明月,低头思故乡.
Dịch âm Hán Việt:
Sàng tiền minh nguyệt quang, Nghi thị địa thượng sương. Cử đầu vọng minh nguyệt, Đê đầu tư cố hương.
Dịch thơ (Tương Như):
Đầu giường ánh trăng rọi Ngỡ mặt đất phủ sương. Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhớ cố hương.
枫桥夜泊: Phong Kiều Dạ Bạc Tác giả: Trương Kế
月落乌啼霜满天 江枫鱼火对愁眠 姑苏城外寒山寺 夜半钟声到客船
Bản dịch Hán Việt:
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên Giang phong ngư hỏa đối sầu miên Cô Tô thành ngoại Hàn San tự Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Bản dịch của Nguyễn Hàm Ninh
Trăng tà chiếc quạ kêu sương Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ Thuyền ai đậu bến Cô Tô Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
元宵 – Nguyên tiêu Tác giả: Hồ Chí Minh
今夜元宵月正圓, 春江春水接春天。 煙波深處談軍事, 夜半歸來月滿船。
Phiên âm Hán Việt
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên, Xuân giang, xuân thuỷ tiếp xuân thiên. Yên ba thâm xứ đàm quân sự, Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.
Dịch nghĩa
Đêm nay, rằm tháng giêng, trăng vừa tròn, Nước sông xuân tiếp liền với màu trời xuân. Giữa nơi khói sóng thăm thẳm, bàn bạc việc quân, Nửa đêm trở về, thuyền chở đầy ánh trăng.
Giới thiệu đến bạn đọc bài Thơ Hán Việt Về Mưa Thi Vị dưới đây.
北方舞 – Dạ vũ ký bắc Tác giả: Lý Thương Ẩn
Quân vấn quy kỳ vị hữu kỳ Ba Sơn dạ vũ trướng thu trì Hà đương cộng tiễn tây song chúc Khước thuyết Ba Sơn dạ vũ thì.
Nàng hỏi ngày về? Chửa có ngày Ao thu mưa tối nước dâng đầy Cửa tây mong dịp cùng thắp nến Kể chuyện nơi đây lúc nước đầy.
秋夜 – Thu dạ Tác giả: Hồ Chí Minh
籌劃更深漸得閒, 秋風秋雨報秋寒。 忽聞秋笛山前響, 遊擊歸來酒未殘。
Phiên âm Hán Việt
Trù hoạch canh thâm tiệm đắc nhàn, Thu phong thu vũ báo thu hàn. Hốt văn thu địch sơn tiền hưởng, Du kích quy lai tửu vị tàn.
Dịch nghĩa
Bàn tính công việc, mãi đến canh khuya mới tạm được nghỉ ngơi, Mưa gió mùa thu báo tin tiết thu lạnh đã đến. Chợt nghe tiếng sáo thu từ phía trước núi vọng lại, Bộ đội, du kích vừa về, cuộc rượu chưa tàn.
靖安晚立 – Tĩnh yên vãn lập Tác giả: Nguyễn Trãi
淡煙疏雨晚摸糊 水色天光半有無 萬古乾坤清景致 海山為我出新圖
Phiên âm Hán Việt
Đạm yên sơ vũ vãn mô hồ Thủy sắc thiên quang bán hữu vô Vạn cổ càn khôn thanh cảnh trí. Hải sơn vị ngã xuất tân đồ
Dịch nghĩa
Khói lạt mưa nhẹ cảnh chiều lờ mờ ; Sắc nước ảnh trời nửa không nửa có. Trời đất muôn thuở cảnh trí tươi trong ; Biển non vì ta vẽ bức tranh mới.
Khuyến quân nhất trản quân mạc từ, Khuyến quân lưỡng trản quân mạc nghi, Khuyến quân tam trản quân thuỷ tri. Diện thượng kim nhật lão tạc nhật, Tâm trung tuý thì thắng tỉnh thì. Thiên địa điều dao tự trường cửu, Bạch thố xích ô tương sấn tẩu. Thân hậu đôi kim trụ Bắc Đẩu, Bất như sinh tiền nhất tôn tửu. Quân bất kiến: Xuân Minh môn ngoại thiên dục minh, Huyên huyên ca khốc bán tử sinh. Du nhân trú mã xuất bất đắc, Bạch dư tố xa tranh lộ hành. Quy khứ lai, đầu dĩ bạch, Điển tiền tương dụng mãi tửu khiết.
Dịch nghĩa
Mời ông một chén, xin ông đừng từ chối. Mời ông chén thứ hai, xin ông đừng nghi ngại, Mời ông chén thứ ba để ông mới biết rằng: Nét mặt hôm nay già hơn hôm qua, Trong lòng lúc say [thoải mái] hơn lúc tỉnh. Trời đất xa xa tự còn mãi, Thỏ trắng (mặt trăng) quạ đỏ (mặt trời) cứ chạy theo nhau. Chết rồi thì dù vàng có chất cao tới sao Bắc Đẩu, Cũng đâu bằng lúc sống có một chén rượu. Ông thấy không: Ngày xuân tươi sáng, ngoài cửa trời đã rạng, Ồn ào những lời ca tiếng khóc cho đời nửa sống nửa chết. Khách rong chơi phải dừng ngựa không đi được, Vì trên đường xe trắng xe tía đang tranh nhau đi. Quay về thôi, đầu bạc rồi, Cầm đồ lấy tiền mua rượu uống.
Hoa gian nhất hồ tửu Độc chước vô tương thân Cử bôi du minh nguyệt Đối ảnh thành tam thân Nguyệt tức bất giải ẩm Ảnh tùng tùy ngã thân Tạm bạn nguyệt tương ảnh Hành lạc tu cập xuân Ngã ca nguyệt bồi hồi Ngã vũ ảnh linh loạn Tỉnh thời đồng giao hoan Túy hậu các phân tán Vịnh kết vô tình du Tương kỳ mạc vân hán
Dịch nghĩa
Có rượu không có bạn, Một mình chuốc dưới hoa. Cất chén mời Trăng sáng, Mình với Bóng là ba. Trăng đã không biết uống, Bóng chỉ quấn theo ta. Tạm cùng Trăng với Bóng, Chơi xuân cho kịp mà ! Ta hát, Trăng bồi hồi, Ta múa, Bóng rối loạn. Lúc tỉnh cùng nhau vui, Say rồi đều phân tán Gắn bó cuộc vong tình, Hẹn nhau tít Vân Hán
Dành tặng đến bạn đọc chùm 🌾 Thơ Về Rượu 🌾 thú vị sau đây: