Mạn Thuật Bài 4: Nội Dung Bài Thơ + Đọc Hiểu + Phân Tích

Mạn Thuật Bài 4 ❤️️ Nội Dung Bài Thơ, Đọc Hiểu, Phân Tích ✅ Chia Sẽ Những Bài Văn Mẫu Phân Tích Bài Thơ Của Nguyễn Trãi Hay Nhất.

Nội Dung Bài Thơ Mạn Thuật 4

Bài thơ: Mạn thuật bài 4
Tác giả: Nguyễn Trãi

Đủng đỉnh chiều hôm dắt tay,
Trong thế giới phút chim bay.
Non cao non thấp mây thuộc,
Cây cứng cây mềm gió hay.
Nước mấy trăm thu còn vậy,
Nguyệt bao nhiêu kiếp nhẫn nay.
Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết,
Bui một lòng người cực hiểm thay.

Thohay.vn Tặng Bạn ❤️️ Ngôn Chí Bài 18 ❤️️ Nội Dung Bài Thơ, Đọc Hiểu, Cảm Nhận

Ý Nghĩa Mạn Thuật Bài 4

Bài thơ là sự vận dụng tài tình ngôn ngữ dân gian nên những câu thơ đầy gợi tả, để lại dấu ấn đậm sâu trong lòng người đọc. Thông qua bài thơ chúng ta hiểu rõ hơn về vẻ đẹp cốt cách con người Nguyễn Trãi: một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế trước vẻ đẹp của thiên nhiên; nặng lòng với thời cuộc.

Mạn Thuật Bài 4 Đọc Hiểu

☛ Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.

Trả lời: Xác định thể thơ của văn bản: Thơ Nôm Đường luật thất ngôn xen lục ngôn

☛ Câu 2. Theo em, bài thơ được viết vào thời điểm nào trong cuộc đời Nguyễn Trãi?

Trả lời
: Theo em, bài thơ được viết vào thời điểm Nguyễn Trãi đã cáo quan về ở ẩn tại quê nhà (Côn Sơn). Cảnh vật và tâm thế của tác gải trong hai câu đầu cho ta hiểu điều đó.

☛ Câu 3. Phép đối xuất hiện trong những câu thơ nào? Nêu tác dụng.

Trả lời

– Phép đối xuất hiện trong hai câu thực và hai câu luận:
Non cao non thấp >< Cây cứng cây mềm; mây thuộc >< gió hay
Nước mấy trăm thu >< Nguyệt bao nhiêu kiếp; còn vậy >< nhẫn nay.

– Tác dụng:
+ Nhấn mạnh ý: Sự vật bên ngoài như thế nào, chúng ta đều có thể hiểu biết được (câu 3, 4).
+ Nhấn mạnh sự bất biến, vĩnh hằng của thiên nhiên, vạn vật (câu 5, 6).
+ Tạo sự cân xứng, hài hòa cho lời thơ.

☛ Câu 4. Hai câu thơ đầu miêu tả tâm thế, trạng thái của Nguyễn Trãi như thế nào?

Trả lời

Đủng đỉnh chiều hôm dắt tay,
Trong thế giới phút chim bay.
Với cách ngắt nhịp 2/2/2 và 3/3 cùng phép đảo ngữ đưa từ láy đủng đỉnh lên đầu câu, hai câu thơ trên giúp người đọc hình dung tâm thế, trạng thái thảnh thơi, ung dung của Nguyễn Trãi khi dạo chơi giữa thiên nhiên.

☛ Câu 5. Khái quát bố cục của bài thơ.

Trả lời

– Hai câu đầu: Tâm thế ung dung, nhàn tản của Nguyễn Trãi.
– Sáu câu cuối: Những chiêm nghiệm của Nguyễn Trãi về sự vật hiện tượng (bên ngoài) và sự thâm sâu, hiểm ác của lòng người (bên trong).

☛ Câu 6. Chiêm nghiệm và nỗi lòng của Nguyễn Trãi thể hiện trong hai câu thơ kết là gì?

Trả lời

Triết lý sâu sắc đậm tính nhân văn được Nguyễn Trãi diễn giải chỉ trong 2 câu thơ, càng làm cho ta thêm ngưỡng mộ, khâm phục tài văn thơ của tác giả.

☛ Câu 7. Nhận xét những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ.

Trả lời

+ Nguyễn Trãi đã Việt hóa thơ Đường luật, biến thể thơ nhiều quy cách gò bó của Trung Quốc thành thể thơ dân tộc: Xen các câu thơ lục ngôn vào bài thơ thất ngôn; biến hóa linh hoạt về nhịp điệu, phối thanh.
+ Sử dụng ngôn ngữ tự nhiên, mộc mạc như lời ăn tiếng nói hàng ngày, phát huy sự giàu đẹp của ngôn ngữ dân tộc.
+ Sử dụng hiệu quả của phép đối, phép đảo ngữ..
+ Chất trữ tình và chất triết lý đan cải tạo khiến bài thơ vừa giàu cảm xúc, vừa sâu sắc, thấm thía.

☛ Câu 8. Chất trữ tình và chất triết lí của bài thơ được thể hiện như thế nào?

Trả lời

– Chất trữ tình: Thể hiện ở tâm thế đủng đỉnh như thi sĩ của Nguyễn Trãi trong hai câu đầu; thể hiện qua cảm xúc suy tư, đượm buồn của Nguyễn Trãi trước sự hiểm ác của lòng người.
– Chất triết lí: Thể hiện ở những chiêm nghiệm và kết luận của Nguyễn Trãi về cuộc sống bên ngoài và những suy nghĩ mưu toan, tính toán bên trong của mỗi con người.
– Mối quan hệ giữa chất trữ tình và chất triết lí: Đan cài, nhuần nhuyễn vừa tạo nên sự sâu sắc cho lời thơ, vừa thể hiện được cảm xúc của nhà thơ trước cuộc đời, lòng người.

4+ Mẫu Phân Tích Mạn Thuật Bài 4 Hay Nhất

Dưới đây là một số mẫu bài văn phân tích bài thơ “Mạn Thuật Bài 4” hay nhất cho các bạn tham khảo trước khi hành văn.

☛ Phân Tích Mạn Thuật Bài 4 Hay Nhất

Đại thi hào, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi là tác giả lớn, cây đại thụ trong lịch sử văn học dân tộc ta. Cuộc đời đầy máu và nước mắt của ông khiến bất kỳ ai cũng đều xót xa và đau đớn khi chứng kiến. Thế nhưng vượt lên trên tất cả những bất hạnh ấy, Nguyễn Trãi đã cống hiến hết mình cho nhân dân và cho nghệ thuật. Một trong những đóng góp của Nguyễn Trãi cho nền văn học chính là những bài thơ Đường luật đã được Việt hoá để mang hồn cốt dân tộc như bài thơ Mạn thuật 4. Một bài thơ hay trong chùm bài thơ Mạn thuật của ông.

254 bài thơ Nôm trong tập thơ “Quốc âm thi tập” hướng đến công chúng bình dân với hình ảnh làng quê bình dị, với sinh hoạt đời thường. Những bài thơ Nôm trong tập thơ này cũng thể hiện một tâm hồn Nguyễn Trãi giàu tình yêu với quê hương đất nước, nặng lòng với thời cuộc. Mạn thuật bài 4 là một trong những bài thơ thuộc chùm thơ Nôm của Nguyễn Trãi, cũng là một trong những bài thơ nổi tiếng của ông. Bài thơ thể hiện nỗi niềm sâu kín của nhà thơ trước cuộc đời, thời cuộc với những hình ảnh thiên nhiên gần gũi, thân thuộc.

Hầu hết các nhà nghiên cứu và các tài liệu sách giáo khoa đều khẳng định bài thơ được sáng tác trong thời điểm Nguyễn Trãi về ở ẩn tại quê nhà Côn Sơn. Sau một thời gian cống hiến hết mình cho nhân dân, chứng kiến chốn quan trường đầy rẫy bất công, ngang trái, Nguyễn Trãi đã quyết định cáo quan về ở ẩn. Đây cũng là thời điểm nhà thơ có nhiều cơ hội để chiêm nghiệm trước cuộc đời, thời cuộc, lòng người.

Hai câu đầu tiên: “Đủng đỉnh ….chim bay” gợi dáng vẻ tư thế của nhà thơ trước thiên nhiên. Đó là tư thế của một kẻ an nhàn, thư thái trước thời cuộc. Từ láy đủng đỉnh được đảo lên đầu câu gợi dáng vẻ thong dong, tự tại của con người. Giữa một buổi chiều hôm trên quê nhà nhà thơ như lắng lại để ngắm khung cảnh nơi đây với bao vẻ đẹp bình dị, yên ả. Đây cũng là thời gian nhà thơ được trút bỏ hết tất cả những toan tính tầm thường chốn quan trường để sống đúng với những gì mà Người tâm niệm.

Bốn câu thơ tiếp theo: “non cao non thấp….nhẫn nay” là những suy nghĩ của Nguyễn Trãi về sự vận động của thiên nhiên và cuộc đời. Phép đối được sử dụng triệt để trong các cặp câu này. Đó là đối giữa non cao, non thấp với cây cứng, cây mềm; mây thuộc với gió hay; nước mấy trăm thu với nguyệt bao nhiêu kiếp; còn vậy và nhẫn nay. Phép đối có tác dụng nhấn mạnh sự vật hiện tượng thiên nhiên như thế nào thì chúng ta đều có thể biết được. Duy chỉ có một thứ mà không ai có thể biết được chính là lòng người:

Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết
Bui lòng người cực hiểm thay

Quả đúng là như vậy, sự vật thiên nhiên thì mọi thứ đều rõ ràng, không có gì dấu giếm như non cao, non thấp thì mây biết; cây cứng, cây mềm thì gió hay. Duy chỉ có lòng người vô cùng thâm sâu, khó lường, bởi lẽ “ sông sâu còn có kẻ dò/ lòng người nham hiểm ai đo cho cùng”. Nhiều năm lăn lộn chốn quan trường, trực tiếp phò giúp hai vị vua nhà Lê, Nguyễn Trãi đã quá quen với lòng người trong xã hội.

Tâm hồn trong sạch, quyết không sống chung với những thứ đê hèn, bẩn thỉu của một bộ phận quan lại chốn quan trường nên ông đã phải cáo quan về quê. Thế nhưng thị phi vẫn không buông tha cho ông để đến nỗi phải chịu thảm án “tru di tam tộc” mãi về sau mới được vua Lê Thánh Tông minh oan.

Thế là về quê ở ẩn để tìm sự thanh sạch, an nhàn trong tâm, tưởng ngoài tâm an nhàn nhưng ẩn sâu trong tư tưởng lại không hề nhàn. Nguyễn Trãi vẫn vô cùng ghê sợ với lòng người trong xã hội thâm hiểm, khó lường. Chúng ta thấy rõ sự thất vọng, đau đớn của nhà thơ trước thời cuộc. Phải chăng cũng vì thế mà suốt nhiều năm chốn quan trường Nguyễn Trãi vẫn không thể nào “nhập cuộc” được “xã hội” đặc biệt ấy.

☛ Phân Tích Mạn Thuật Bài 4 Đặc Sắc

Bài thơ Mạn Thuật được viết vào thời điểm Nguyễn Trãi đã cáo quan về ở ẩn tại quê nhà (Côn Sơn). Cảnh vật và tâm thế của tác gải trong hai câu đầu cho ta hiểu điều đó.

Đủng đỉnh chiều hôm dắt tay,Trong thế giới phút chim bay.Với cách ngắt nhịp 2/2/2 và 3/3 cùng phép đảo ngữ đưa từ láy đủng đỉnh lên đầu câu, hai câu thơ trên giúp người đọc hình dung tâm thế, trạng thái thảnh thơi, ung dung của Nguyễn Trãi khi dạo chơi giữa thiên nhiên. Giữa thiên nhiên yên bình đó, Nguyễn Trãi đã có những chiêm nghiệm về sự vật hiện tượng (bên ngoài) và sự thâm sâu, hiểm ác của lòng người (bên trong):

Non cao non thấp mây thuộc,Cây cứng cây mềm gió hay.Nước mấy trăm thu còn vậy,Nguyệt bao nhiêu kiếp nhẫn nay.Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết,Bui một lòng người cực hiểm thay.
Phép đối xuất hiện trong hai câu thực và hai câu luận. Non cao non thấp đối với Cây cứng cây mềm; mây thuộc đối với gió hay; Nước mấy trăm thu đối với Nguyệt bao nhiêu kiếp; còn vậy đối với nhẫn nay. Có thể thấy sự vật bên ngoài như thế nào, tất cả chúng ta có thể quan sát, hiểu được một cách rõ ràng và không có gì cản tầm nhìn của chúng ta. Thế nhưng bên trong lại khó có thể nhìn thấy. Suy cho cùng, thiên nhiên, vạn vật luôn có sự bất biến, vĩnh hằng.

Đến với 2 câu kết của bài thơ, cuối cùng, Nguyễn Trãi cũng có thể rút ra những chiêm nghiệm của bản thân. Sự vật, hiện tượng bên ngoài dễ thuộc, dễ biết; còn lòng người thì thật khó lường.Khi chiêm nghiệm ra, Nguyễn Trãi cũng có những nỗi lòng.

Có chút buồn đau, thất vọng và ghê sợ trước lòng người nham hiểm khó lường.
Nguyễn Trãi đã Việt hóa thơ Đường luật, biến thể thơ nhiều quy cách gò bó của Trung Quốc thành thể thơ dân tộc: Xen các câu thơ lục ngôn vào bài thơ thất ngôn; biến hóa linh hoạt về nhịp điệu, phối thanh. Sử dụng ngôn ngữ tự nhiên, mộc mạc như lời ăn tiếng nói hàng ngày, phát huy sự giàu đẹp của ngôn ngữ dân tộc. phép đối, phép đảo ngữ được vận dụng. Chất trữ tình và chất triết lí đan cài tạo khiến bài thơ vừa giàu cảm xúc, vừa sâu sắc, thấm thía.

Chất trữ tình thể hiện ở tâm thế đủng đình như thi sĩ của Nguyễn Trãi trong hai câu đầu; và qua cảm xúc suy tư, đượm buồn của Nguyễn Trãi trước sự hiếm ác của lòng người. Chất triết lí hiện lên ở những chiêm nghiệm và kết luận của Nguyễn Trãi về cuộc sống bên ngoài và những suy nghĩ mưu toan, tính toán bên trong của mỗi con người. Chất trữ tình và chất triết lí đã được đan cài, nhuần nhuyễn vừa tạo nên sự sâu sắc cho lời thơ, vừa thể hiện được cảm xúc của nhà thơ trước cuộc đời, lòng người.

☛ Phân Tích Mạn Thuật Bài 4 Ngắn Gọn

Nguyễn Trãi là một trong những danh nhân văn hóa thế giới, được coi là cây đại thụ trong lịch sử văn học dân tộc Việt Nam. Mặc dù cuộc đời ông đầy máu và nước mắt, nhưng ông đã vượt qua những bất hạnh đó để cống hiến hết mình cho nhân dân và nghệ thuật. Ông đã để lại nhiều đóng góp cho nền văn học Việt Nam, trong đó có tập thơ “Quốc âm thi tập” với 254 bài thơ Nôm, thể hiện tình yêu với quê hương đất nước và tâm hồn nặng lòng với thời cuộc.

Mạn thuật bài 4 là một trong những bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Trãi, nằm trong chùm thơ Nôm của ông. Bài thơ thể hiện nỗi niềm sâu kín của nhà thơ trước cuộc đời và thời cuộc, với những hình ảnh thiên nhiên gần gũi, thân thuộc. Tập thơ này mang đến cho công chúng bình dân những hình ảnh đời thường, làng quê bình dị, là một tài sản văn hóa của Việt Nam.

Theo phần lớn các nhà nghiên cứu và sách giáo khoa, bài thơ được sáng tác trong thời gian Nguyễn Trãi đang ẩn dật tại Côn Sơn quê hương, sau khi tận tụy với dân và chứng kiến những bất công, thối nát của triều đình. Đây cũng là lúc nhà thơ có nhiều dịp chiêm nghiệm về cuộc đời, về xã hội và về bản chất con người.

Bài Mạn thuật số 4 của Nguyễn Trãi được viết toàn bộ bằng chữ Nôm trên nền thể thơ cổ. Trong bố cục bao gồm đề, thực, luận, kết, thủ pháp đối và đảo ngữ, ta vẫn có thể nhận thấy ảnh hưởng của thơ Đường. Tuy nhiên, đây là một tác phẩm đã được việt hoá rõ rệt, với sự chọn lọc cẩn thận hình ảnh quen thuộc và bình dị. Bài thơ cũng sử dụng câu thơ lục ngôn, phối thanh vần nhịp một cách linh hoạt và biến hóa.

Nhà thơ đứng giữa thiên nhiên trong tư thế thư thái và an nhàn được gợi lên bởi hai câu đầu tiên của bài thơ. Từ “đủng đỉnh” ở đầu câu cho thấy vẻ thong dong và tự tại của con người. Trong một buổi chiều yên ả trên quê hương, nhà thơ cảm nhận được vẻ đẹp bình dị và được giải thoát khỏi toan tính của cuộc sống hiện đại. Bốn câu thơ tiếp theo, với phép đối, thể hiện suy nghĩ của Nguyễn Trãi về sự vận động của thiên nhiên và cuộc đời.

Nhưng trong tất cả những gì hiểu biết được về thiên nhiên, lòng người vẫn là điều khó lường nhất. Nhà thơ đáp lại sự thật này bằng những dòng thơ đầy thất vọng và đau đớn. Sau nhiều năm trải qua chốn quan trường, Nguyễn Trãi không thể nhập cuộc vào xã hội đặc biệt ấy và buộc phải rời bỏ để tìm sự thanh sạch và an nhàn trong tâm hồn. Tuy nhiên, lòng người vẫn là một điều không thể lường trước và đôi khi mang đến cho chúng ta những thất vọng và đau đớn.

Mạn thuật bài 4 là một ví dụ điển hình cho phong cách thơ Nôm của Nguyễn Trãi. Bài thơ thể hiện sự tài tình của ông trong việc sử dụng ngôn ngữ dân gian để gợi lên những hình ảnh sắc nét, để lại ấn tượng sâu đậm trong tâm trí người đọc. Bằng bài thơ này, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về tâm hồn nhạy cảm, tinh tế của Nguyễn Trãi đối với vẻ đẹp thiên nhiên và lòng nặng trĩu trước thời cuộc. Bài thơ là một cách tân mạnh mẽ cho thơ Nôm của dân tộc.

Thohay.vn Chia Sẽ ❤️️ Ngôn Chí Bài 10 ❤️️ Nội Dung Bài Thơ, Đọc Hiểu, Phân Tích

☛ Phân Tích Mạn Thuật Bài 4 Học Sinh Giỏi

Những bài thơ của tác giả Nguyễn Trãi thể hiện một nhân cách thanh cao, một tâm hồn cao đẹp, và một tâm hồn yêu nước thầm kín. “Mạn Thuật 4” là một trong những bài thơ đặc sắc được rủ ra từ tập thơ Mạn Thuật mang nhiều ý nghĩa về cuộc sống.

Đủng đỉnh chiều hôm dắt tay,
Trong thế giới phút chim bay.

Với cách ngắt nhịp 2/2/2 và 3/3 cùng phép đảo ngữ đưa từ láy đủng đỉnh lên đầu câu, hai câu thơ trên giúp người đọc hình dung tâm thế, trạng thái thảnh thơi, ung dung của Nguyễn Trãi khi dạo chơi giữa thiên nhiên. Qua đó cũng thể hiện chất trữ tình của thi sĩ, cảm xúc suy tư, đượm buồn của Nguyễn Trãi trước sự hiếm ác của lòng người.

Ở 6 câu tiếp theo là những chiêm nghiệm của Nguyễn Trãi về sự vật hiện tượng (bên ngoài) và sự thâm sâu, hiểm ác của lòng người (bên trong).

Non cao non thấp mây thuộc,
Cây cứng cây mềm gió hay.
Nước mấy trăm thu còn vậy,
Nguyệt bao nhiêu kiếp nhẫn nay.
Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết,
Bui một lòng người cực hiểm thay.

Chất triết lý thể hiện ở những chiêm nghiệm và kết luận của Nguyễn Trãi về cuộc sống bên ngoài và những suy nghĩ mưu toan, tính toán bên trong của mỗi con người.

Nguyễn Trãi đã Việt hóa thơ Đường luật, biến thể thơ nhiều quy cách gò bó của Trung Quốc thành thể thơ dân tộc: Xen các câu thơ lục ngôn vào bài thơ thất ngôn; biến hóa linh hoạt về nhịp điệu, phối thanh. Sử dụng ngôn ngữ tự nhiên, mộc mạc như lời ăn tiếng nói hàng ngày, phát huy sự giàu đẹp của ngôn ngữ dân tộc.

Các phép đối, phép đảo ngữ được sử dụng 1 cách hiệu quả tạo nên chất trữ tình và chất triết lí đan cài tạo khiến bài thơ vừa giàu cảm xúc, vừa sâu sắc, thấm thía.

Viết một bình luận