Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán ❤️️Nội Dung, Nghệ Thuật, Phân Tích

Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán ❤️️ Nội Dung, Nghệ Thuật, Phân Tích ✅ Chia Sẻ Cách Soạn Bài, Giáo Án Và Các Mẫu Phân Tích Hay Nhất.

Nội Dung Trích Đoạn Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán

Sau khi chịu bao đau khổ, tủi nhục, đoạ đầy, Thuý Kiều được Từ Hải cứu thoát khỏi lầu xanh và giúp nàng thoả nguyện đền ơn trả oán. Đây là trích đoạn tả cảnh báo ân, báo oán của Thúy Kiều.

Thuý Kiều báo ân báo oán
Tác giả: Nguyễn Du

Cho gươm mời đến Thúc lang,
Mặt như chàm đổ mình dường dẽ run
Nàng rằng: “Nghĩa nặng nghìn non”,
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm Thương[2] chẳng vẹn chữ tòng,
Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?
Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân,
Tại lòng dễ xứng báo ân gọi là.
Vợ chàng quỷ quái tinh ma,
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau.
Kiến bò miệng chén chưa lâu,
Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa”.

[…] Thoắt trông nàng đã chào thưa:
“Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!
Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan!
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều.”
Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
Khâu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca.
Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Nghĩ cho khi gác viết kinh
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng riêng những kính yêu,
Chông chung chưa dễ ai chiều cho ai.
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”.
Khen cho: “Thật đã nên rằng,
Khôn ngoan đến mực nói năng phai lời.
Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen.
Đã lòng tri quá thì nên”.
Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.

Tìm hiểu thêm trích đoạn🔰 Mã Giám Sinh Mua Kiều 🔰 Nội Dung, Nghệ Thuật, Phân Tích

Về Nhà Thơ Nguyễn Du

Dưới đây là một số thông tin về nhà thơ Nguyễn Du, bạn có thể tham khảo.

  • Nguyễn Du (1765 – 1820) tên chữ là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên. 
  • Ông sinh trưởng trong một gia đình đại quý tộc, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học.
  • Cuộc đời Nguyễn Du trải qua nhiều biến cố thăng trầm nhưng chính hoàn cảnh ấy tạo cho ông vốn sống phong phú, tâm hồn sâu sắc.
  • Sự nghiệp sáng tác được đánh giá cao cả về chữ Hán và chữ Nôm.
  • Tinh thần nhân đạo sâu sắc.
  • Các giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật đạt đến đỉnh cao.

Về Tác Phẩm Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán

Về tác phẩm Thuý Kiều báo ân báo oán, đây là một phần trong tác phẩm “Truyện Kiều” của đại thi hào Nguyễn Du. Đoạn trích này được viết theo thể thơ lục bát, bản gốc được viết bằng chữ Nôm.

Qua ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Du, chúng ta thấy được tấm lòng nhân nghĩa vị tha của Kiều và ước mơ công lí chính nghĩa của nhân dân: con người bị áp bức đau khổ sẽ vùng lên tìm công lí, “ở hiền sẽ gặp lành”, “gieo nhân nào gặt quả nấy”.

Đoạn trích cũng cho người đọc thấy cách ứng xử của con người khác nhau khi đối mặt với thiện và ác, giữa trả thù và báo ân. Người đọc có thể cảm nhận được những tư tưởng, thái độ tình cảm của tác giả Nguyễn Du khi ca ngợi lối sống ân nghĩa, nhân ái giữa con người với nhau, đồng thời lên án những điều xấu xa, độc ác.

Chia sẻ thêm các mẫu phân tích🌷Kiều Ở Lầu Ngưng Bích 🌷 Nội Dung Bài Thơ, Nghệ Thuật

Xuất Xứ Bài Thơ Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán

Cùng Thohay.vn tìm hiểu xuất xứ bài thơ Thuý Kiều báo ân báo oán sau đây nhé!

  • Đoạn trích “Thúy Kiều báo ân báo oán” nằm ở phần II của tác phẩm, mang tên “Gia biến và lưu lạc”.
  • Với mạch truyện kể về cuộc đời gian truân, bất hạnh của Thúy Kiều sau khi bán mình chuộc cha, trích đoạn thơ trên tập trung miêu tả cảnh Kiều trả ân, báo oán. Trước là đền ân nghĩa những người cưu mang, giúp đỡ bản thân khi gặp khó khăn, sau là trừng trị những kẻ tàn ác hãm hại nàng trong bước đường lưu lạc.

Ý Nghĩa Nhan Đề Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán

Nhan đề Thuý Kiều báo ân báo oán đã nói lên nội dung chính của đoạn trích, Kiều đền ơn đáp nghĩa những người đã cưu mang giúp đỡ mình trong cơn hoạn nạn, đồng thời trừng trị những kẻ bất nhân, tàn ác.

Đừng bỏ lỡ tác phẩm 🌷Truyện Kiều [Nguyễn Du] 🌷 Nội Dung Bài Thơ, Giá Trị, Phân Tích

Bố Cục Bài Thơ Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán

Bố cục của bài thơ Thuý Kiều báo ân báo oán gồm 2 phần như sau:

  • Phần một: 12 câu thơ đầu: Thúy Kiều trả ân, đền nghĩa ân tình Thúc Sinh
  • Phần hai: 22 câu thơ còn lại: Thúy Kiều báo oán, trừng trị Hoạn Thư

Giá Trị Trích Đoạn Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán

Cùng tìm hiểu giá trị đoạn trích Thuý Kiều báo ân báo oán sau đây nhé!

Giá trị nội dung

  • Đoạn trích miêu tả cảnh báo ân báo oán đối với hai nhân vật là Thúc Sinh và Hoạn Thư, qua đó làm nổi bật tấm lòng nhân nghĩa, cao thượng của Thúy Kiều.
  • Thể hiện ước mơ công lí, chính nghĩa theo quan điểm của quần chúng nhân dân: con người bị áp bức sẽ đứng lên cầm cán cân công lí.

Giá trị nghệ thuật

  • Đoạn trích bộc lộ tài năng của Nguyễn Du về nghệ thuật xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại.
  • Qua những đối đáp của Thúy Kiều với Thúc Sinh và Hoạn Thư, có thể thấy Thúy Kiều đã tự bộc lộ tính cách và tâm trạng của mình một cách hết sức tự nhiên (tấm lòng trân trọng, biết ơn với Thúc Sinh qua cách nói trang trọng, giàu ước lệ; nỗi đau đớn tủi nhục không nguôi trước sự hành hạ của Hoạn Thư khiến Kiều cũng có những lời lẽ sắc sảo, chua chát, có phần nghiệt ngã).
  • Những lí lẽ gỡ tội của Hoạn Thư cũng bộc lộ rõ tính cách của con người “nói lời ràng buộc thì tay cũng già”.

Gợi ý phân tích 🌹Cảnh Ngày Xuân 🌹 Nội Dung, Nghệ Thuật

Dàn Ý Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán

Gợi ý bạn đọc cách lập dàn ý phân tích bài Thuý Kiều báo ân báo oán chi tiết

1. Mở bài: Giới thiệu sơ lược về tác giả, đoạn trích:

  • Nguyễn Du (1765 – 1820) là một người có hiểu biết sâu rộng, vốn sống phong phú.
  • Đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán là đoạn trích rất đặc sắc tả lại cảnh Thuý Kiều báo ân Thúc Sinh và báo oán Hoạn Thư.

2. Thân bài

* Khái quát về đoạn trích:

  • Vị trí đoạn trích: Thúy Kiều báo ân báo oán được trích từ phần sau đoạn “Kiều gặp Từ Hải” (từ câu 2289 đến câu 2450 của Truyện Kiều)
  • Nội dung chính: Miêu tả cảnh Kiều đền ơn đáp nghĩa những người đã cưu mang giúp đỡ mình trong cơn hoạn nạn (Thúc Sinh), đồng thời trừng trị những kẻ bất nhân, tàn ác (Hoạn Thư).

* Thúy Kiều báo ân Thúc Sinh

– Thúc Sinh được mời đến trong cảnh oai nghiêm nơi Kiều xử án: “Cho gươm mời đến Thúc Lang”

– Kiều biết ơn Thúc Sinh

  • Đã cứu nàng ra khỏi lầu xanh.
  • Cho nàng về làm vợ lẽ (dù phải chịu nhiều đau đớn hơn phận tôi đòi).
  • Trân trọng Thúc Sinh

– Kiều đền ơn Thúc Sinh: “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân”.

– Nhắc đến những việc mà Hoạn Thư đã gây ra cho mình.

– Khi nói với Thúc Sinh, Kiều dùng nhiều từ Hán Việt (chữ tòng, cố nhân, sâm thương), những điển cố, cách nói sang trọng, phù hợp với việc thể hiện lòng biết ơn.

– Cách cư xử tế nhị, khôn khéo của Thúy Kiều khi báo ân Thúc Sinh.

– Kiều là người có bản chất vị tha, thông minh, sáng suốt và sống có tình nghĩa.

* Thúy Kiều báo oán Hoạn Thư

– Kiều và Hoạn Thư gặp nhau lần này trong vị thế đã thay đổi:

+ Vị thế của Thúy Kiều:

  • Lúc ở nhà Hoạn Thư là nô tì, vợ lẽ.
  • Giờ là phu nhân quan tòa (người xét xử)

+ Vị thế của Hoạn Thư:

  • Lúc trước là chủ nhà.
  • Giờ là bị cáo (người bị xét xử)

– Cử chỉ “chào thưa”, cách xưng hô “tiểu thư” : thể hiện thái độ mỉa mai, đay nghiến, đe dọa với những hình phạt khủng khiếp đối với Hoạn Thư và danh gia nhà họ Hoạn.

– Thái độ của Hoạn Thư: tuy sợ nhưng vẫn tỏ ra là người khôn ngoan, gian xảo.

  • Đầu tiên, dựa vào cớ mình là phụ nữ hay ghen để gỡ tội.
  • Khôn khéo gợi lại những việc làm nhân nghĩa đối với Kiều: cho chép kinh ở Quan Âm Các, không bắt giữ khi Kiều bỏ trốn.
  • Tự nhận lỗi về mình.

– Hoạn Thư là một người khôn ngoan, quỷ quyệt, biết biến nguy thành an.

– Trước lí lẽ sắc bén của Hoạn Thư, Kiều đã:

  • Khâm phục tài trí, miệng lưỡi của Hoạn Thư.
  • Phân vân, khó xử.
  • Răn đe và tha bổng cho Hoạn Thư.

– Kiều là người độ lượng, khoan dung, vị tha và nhân hậu.

– Nguyễn Du đã dùng những từ ngữ mang tính ước lệ và ngôn ngữ nôm na, bình dân, thành ngữ dân gian. Sự trừng phạt cái ác theo quan điểm nhân dân phải được diễn tả bằng lời ăn tiếng nói của nhân dân.

* Đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích

  • Xây dựng những đoạn đối thoại đặc sắc
  • Sử dụng hình ảnh tượng trưng, ước lệ
  • Khắc họa, miêu tả và xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại
  • Từ ngữ mang tính ngôn ngữ nôm na, bình dân
  • Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc

3. Kết bài

  • Tổng kết nghệ thuật 
  • Nêu cảm nhận về đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán.

Soạn Bài Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán

Các em học sinh có thể tham khảo cách soạn bài Thuý Kiều báo ân báo oán như sau:

👉Câu 1 (trang 108 sách giáo khoa Ngữ văn 9 Tập 1): Thúy Kiều báo ân

  • Thúy Kiều là người coi trọng ân nghĩa, nghĩa tình.
  • Kiều nói với Thúc Sinh về Hoạn chứng tỏ nàng không bao giờ quên nỗi đau mà Hoạn Thư gây ra cho mình.
  • Khi nói với Thúc Sinh, Kiều dùng nhiều từ Hán Việt (chữ tòng, cố nhân, sâm thương), những điển cố, cách nói sang trọng, phù hợp với việc thể hiện lòng biết ơn. Ngôn ngữ của Kiều khi nói về Hoạn Thư là ngôn ngữ dân gian nôm na, bình dị với những thành ngữ quen thuộc, dễ hiểu (quỷ quái tinh ma, kẻ cắp, bà già…).

👉Câu 2 (trang 108 sách giáo khoa Ngữ văn 9 Tập 1):

  • Những lời đầu tiên Kiều nói với Hoạn Thư có giọng điệu mỉa mai, đay nghiến. Nàng đã xưng hô như thời còn ở nhà họ Hoạn, một điều chào thưa hai điều “tiểu thư”, cách xưng hô này trong hoàn cảnh Kiều và Hoạn Thư đã thay đổi bậc đổi ngôi
  • Thái độ Kiều : quyết liệt trừng trị và trả thù Hoạn Thư.

👉Câu 3 (trang 108 sách giáo khoa Ngữ văn 9 Tập 1):

  • Trước thái độ đó của Kiều, Hoạn Thư đã: “liệu điều kêu ca”.
  • Trình tự lí lẽ của Hoạn Thư : Dựa vào tâm lý thường tình của đàn bà để gỡ tội → từ trọng tội biến thành chuyện nhỏ “thường tình” → Tiếp đến Hoạn Thư kể công với Kiều→ tỏ thái độ “riêng riêng những kính yêu” → nhận lỗi và mong tha thứ.
  • Các lí lẽ đó tác động tới Kiều: nhìn ra sự khôn ngoan của Hoạn Thư “khôn ngoan đến mức, nói năng phải lời” nàng có răn đe nhưng khó xử rồi tha bổng cho Hoạn Thư.
  • Tính cách Hoạn Thư : khôn ngoan, thủ đọa, mưu mô, lọc lõi.

👉Câu 4 (trang 108 sách giáo khoa Ngữ văn 9 Tập 1):

  • Kiều tha Hoạn Thư vì những lí lẽ khôn ngoan của Hoạn Thư và bản tính rộng lượng, vị tha của Kiều.
  • Việc làm ấy hợp lí thể hiện lòng nhân hậu, cư xử theo quan điểm triết lý dân gian “đánh người chạy đi không ai đánh kẻ chạy lại”.

⇒ Kiều là người giàu lòng vị tha, nặng tình nghĩa, nhân hậu, độ lượng.

👉Câu 5 (trang sách giáo khoa Ngữ văn 9 Tập 1):

  • Hoạn Thư khôn ngoan, thủ đoạn, mưu mô. Trong cảnh “hồn lạc phách xiêu” vẫn chứng minh mình là người “sâu sắc nước đời”.
  • Thúy Kiều giàu lòng vị tha, tình nghĩa. Đối với Thúc Sinh biết ơn, trân trọng và ban thưởng hậu hĩnh; đối với Hoạn Thư tha thứ, vị tha.

Đón đọc tác phẩm 🌼 Chuyện Cũ Trong Phủ Chúa Trịnh 🌼Nội dung, nghệ thuật

Giáo Án Bài Thơ Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán

Các thầy cô có thể tham khảo cách soạn giáo an bài thơ Thuý Kiều báo ân báo oán sau đây:

I. Mục tiêu cần đạt: Giúp HS:

  •  Thấy được tấm lòng nhân nghĩa, vị tha của Kiều và ước mơ công lý chính nghĩa theo quan điểm quần chúng nhân dân: con người bị áp bức đau khổ vùng lên thực hiện công lý”ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ”.
  •  Thấy được thành công nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Du: khắc hoạ tính cách qua ngôn ngữ đối thoại.
  • Biết vận dụng bài học để phân tích tính cách nhân vật qua ngôn ngữ đối thoại.

II. Chuẩn bị tài liệu

1. Giáo viên: Soạn bài, tranh, đọc các tài liệu tham khảo, tài liệu chuẩn kiến thức kĩ năng.

2. Học sinh: Đọc trước bài, chuẩn bị bài, (trả lời câu hỏi đọc hiểu sgk)

III. Tiến trình tổ chức dạy học

1. Ổn định tổ chức: Kiểm tra sỉ số

2. Kiểm tra bài cũ: Kiểm tra việc chuẩn bị bài của học sinh

3. Bài mới

Hoạt động của GV và HSKiến thức cần đạt
HĐ1. HDHS đọc và tìm hiểu chú thích:
– GV hướng dẫn đọc- đọc mẫu
– Kiểm tra việc hiểu 1 số chú thích SGK
I. Đọc và tìm hiểu chú thích
1. Đọc:
2. Tìm hiểu chú thích
HĐ2. HDHS đọc – hiểu văn bản:
H: Xác định vị trí đoạn trích?
II. Đọc hiểu văn bản:
1. Vị trí đoạn trích:
– Đoạn trích nằm ở cuối phần thứ 2 (Gia biến và lưu lạc), đoạn trích nói về việc Thuý Kiều trả ơn những người đã giúp mình, đồng thời hỏi tội những người hại mình.
H: Xác định bố cục và nội dung từng phần trong đoạn trích?2. Bố cục:
– Đoạn trích gồm 2 đoạn   
+ Mười hai câu đầu: Thúy Kiều báo ân.
+ Hai mươi hai câu còn lại: Thúy Kiều báo oán.
H: Phân tích cảnh Thuý Kiều báo ân– Cảnh báo ân, diễn ra long trọng, Thúy Kiều cho người “mời” Thúc Sinh tới, hai người tâm sự và có gợi lại chuyện cũ.
– Thúy Kiều tuy có đôi chút tủi hờn, về những ngày tháng phải làm tôi tớ ở nhà Hoạn Thư nhưng nàng cũng hiểu được rằng Thúc Sinh rất nặng tình với nàng.
– Những từ “Nghĩa nặng tình non”, “Cố nhân”,” Người cũ” thể hiện Thúy Kiều là người trọng tình, trọng nghĩa, dù sao cũng một thời nàng làm “Vợ người ta” nên cũng có những kỷ niệm gắn bó, quên làm sao ngay được.
– Thúy Kiều ban tặng cho Thúc Sinh rất nhiều gấm lụa và tiền bạc, điều này thể hiện rằng Thúy Kiều là người chung thủy trước sau như một. Giàu sang, phú quý cũng không vì thế mà quên tình nghĩa xưa kia.
H: Phân tích cảnh Thúy Kiều báo oán– Thúy Kiều vẫn còn khá giận về Hoạn Thư
=> nàng dùng những lời lẽ sâu cay, bình dân để nói về người phụ nữ nham hiểm này.
– Từ sau lần đánh ghen Thúy Kiều thành công đẩy được nàng tránh xa cuộc đời chồng mình là Thúc Sinh, Hoạn Thư hoan hỉ lắm, vì mang trong lòng sự chiến thắng, hả hê vì chồng phải ngoan ngoãn nghe lời mình.
– Thúy Kiều đã kiên nhẫn khuyên Hoạn Thư nên giữ chừng mực trong cách ăn nói của mình, đừng làm cho mọi chuyện trở nên căng thẳng. 
– Hoạn Thư là người đàn bà xảo ngôn, nhưng giờ đang là thủ phạm bị báo oán, đứng trước nhiều binh linh gươm đao quanh mình, Hoạn Thư có chút run sợ.
=>Hoạn Thư tự biết mình đã hành xử quá đáng với Thúy Kiều nên xuống nước cầu xin, dùng những lời lẽ khôn ngoan để biện hộ cho tội lỗi của mình.
– Những lời xin tội của Hoạn Thư ngẫm ra thì cũng có lý, có tình, chỉ vì ghen quá nên Hoạn Thư mù quáng.
– Trong cuộc đời này cảnh chồng chung không ai thích và chẳng ai muốn chia sẻ chồng mình với người phụ nữ khác nên hành động của Hoạn Thư cũng có thể tha thứ được.

IV. Củng cố và luyện tập

  • Học thuộc lòng đoạn trích
  • Khái quát những nét chính tính cách của Thuý Kiều, Hoạn Thư, Thúc Sinh qua đoạn trích?

V. Dặn dò: Học thuộc vài và chuẩn bị bài mới

Sơ Đồ Tư Duy Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán

Thông qua các mẫu sơ đồ tư duy sau đây, các em học sinh có thể nắm bắt bài học nhanh chóng hơn.

Sơ Đồ Tư Duy Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán Đơn Giản
Sơ Đồ Tư Duy Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán Đơn Giản
Sơ đồ tư duy trích đoạn Thuý Kiều báo ân báo oán
Sơ đồ tư duy trích đoạn Thuý Kiều báo ân báo oán
Sơ Đồ Tư Duy Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán Chi Tiết Nhất
Sơ Đồ Tư Duy Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán Chi Tiết Nhất
Sơ Đồ Tư Duy Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán
Sơ Đồ Tư Duy Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán

    Chia sẻ cho bạn đọc 🔻 Hồi Trống Cổ Thành 🔻 Sơ Đồ Tư Duy, Mẫu Phân Tích Hay 

    5 Mẫu Phân Tích Bài Thơ Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán Hay Nhất

    Cùng tham khảo thêm 5 mẫu phân tích bài thơ Thuý Kiều báo ân báo oán hay nhât sau đây.

    Mẫu Phân Tích Bài Thơ Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán Hay – Mẫu 1

    Trải qua biết bao đau đớn, bất hạnh những tưởng cuộc đời Thúy Kiều mãi chìm trong “màn đêm tăm tối” của số phận, không có ngày thoát ra được. Nhưng từ khi gặp được Từ Hải,Thúy Kiều không chỉ được sống cuộc sống của một người bình thường, có danh phận mà còn được Từ Hải giúp đỡ để báo đền mọi ân oán. Đoạn trích ” Thúy Kiều báo ân báo oán” thể hiện rõ nét của phiên tòa xử phạt ấy.

    Cuộc sống nổi trôi thăng trầm,bao nỗi bất hạnh đi qua cuộc đời nhưng những ai đã từng cơ ơn,những ai gieo rắc đau khổ cho mình thì Thúy Kiều đều ghi tạc rất rõ trong lòng.

    Nay được Từ Hải cho cơ hội báo ân, báo oán,Thúy Kiều không chỉ cho gọi đến những người có ân để tiện bề đền đáp, mà còn đưa những người đã từng chà đạp, coi thường nàng đến để định tội,trừng phạt. Đoạn trích “Kiều báo ân báo án” như một phiên tòa xét xử,trong đó, người “thẩm phán” chính là Thúy Kiều. Trước hết, Thúy Kiều tiến hành báo đáp những người có ơn với mình trước:

    “Nàng rằng: Nghĩa trọng nghìn non
    Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
    Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng
    Tại ai,ai há phụ lòng cố nhân”

    Người đầu tiên mà Thúy Kiều muốn báo đáp là Thúc Sinh. Với Thúc Sinh, tình nghĩa “nặng trọng như núi”. Người đã cứu Kiều ra khỏi thanh lâu, người đã rất mực yêu thương, đối xử với Thúy Kiều như một người vợ đích thực.”Lâm Tri chàng còn nhớ không?” Lời Thúy Kiều dành cho Thúc Sinh mới chân thành, tha thiết làm sao. Dùng điển tích “Sâm Thương” để nói về sự biết ơn đối với Thúc Sinh đã thể hiện được tấm lòng chân thành ấy đối với “cố nhân”.

    Tuy là đối tượng được báo đáp nhưng Thúc Sinh lại tỏ ra rất sợ hãi, lo lắng: “Mặt như chàm đổ, mình giường giẽ run”. Các từ ngữ như “chàm đỏ”, “run” vừa thể hiện được được cái xám ngắt của sắc mặt, vừa thể hiện được cái run rẩy của đôi chân Thúc Sinh.Khi nghe Thúy Kiều kết tội Hoạn Thư thì trên mặt Thúc Sinh đã “ướt đầm mồ hôi”. Dù chỉ được phác họa bằng vài nét tả xong Nguyễn Du cũng đã khắc họa thành công tính cách,con người của Thúc Sinh: hèn nhát, nhu nhược, thiếu bản lĩnh.

    Với người có ơn với mình Thúy Kiều hết lòng báo đáp, còn đối với những người mắc oán với mình thì Thúy Kiều cũng phân tính rạch ròi. Điển hình của màn báo oán này là đối với nhân vật Hoạn Thư. Đối với Hoạn Thư,ngay từ lúc nhìn thấy,Thúy Kiều đã lớn tiếng kết tội: “Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư”.

    Tiếng kết tội này không chỉ rõ ràng,đanh thép mà còn thể hiện được sự phẫn nộ của Thúy Kiều đối với Hoạn Thư.Không chỉ vậy, khi đối thoại với Hoạn Thư, Thúy Kiều cũng nói bằng giọng điệu đầy châm chọc:

    “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây
    Đàn bà dễ có mấy tay
    Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan
    Dễ dàng là thói hồng nhan
    Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”

    “Tiểu thư” là cách nói đầy trào phúng của Thúy Kiều dành cho Hoạn Thư nhằm chế giễu con người sang trọng, quyền quý như Hoạn Thư mà cũng có ngày hôm nay. Với Thúc Sinh lời nói chân thành da diết bao nhiêu thì với Hoạn Thư giọng nói đanh thép, phẫn nộ bấy nhiêu.Cuối cùng là sự kết án rõ ràng “Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều” như định sẵn một bản án dành cho Hoạn Thư.

    Tuy nhiên, Hoạn Thư cũng là con người đầy khôn ngoan, lọc lõi sự đời.Khi bị áp giải đến “phiên tòa” thì cũng sợ hãi đến “hồn bay phách lạc” nhưng sự từng trải cùng bản lĩnh hơn người đã khiến nàng ta bình tâm và đưa ra những lí lẽ đầy sức thuyết phục:

    “Rằng: Tôi chút phận đàn bà
    Ghen tuông thì cũng người ta thường tình
    Nghĩ cho khi gác viết kinh
    Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo
    Lòng riêng riêng những kính yêu
    Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”

    Trước hết, lí lẽ là Hoạn Thư đưa ra đó là mình “chút phận đàn bà” nên ghen tuông, cay nghiệt với vợ bé của chồng cũng là “người ta thường tình”. Nếu sự biện minh này bước đầu chạm vào tấm lòng vị tha của Thúy Kiều thì câu thơ sau lại khiến Kiều có cảm giác mình mang ơn Hoạn Thư:

    “Nghĩ cho khi gác viết kinh
    Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo”

    Hoạn Thư đã kể nể sự “nhân ái” của mình đã từng dành cho Thúy Kiều, đó là lần cho Thúy Kiều ra Quan Âm Các viết kinh và khi Thúy Kiều bỏ trốn cũng không sai người truy cứu “dứt tình chẳng theo”. Hoạn Thư kể ra nỗi khổ khi sống cảnh chung chồng “Chồng chung ai dễ ai chiều cho ai”.

    Điều này đã “quy đồng” cảnh ngộ của cả mình và Thúy Kiều, đó là cảnh chung chồng, từ đó gợi ra được sự cảm thông của Kiều.Có thể nói Hoạn Thư là con người thông minh, lí lẽ sắc bén, biết cách đánh vào tâm lí người đối diện. Chẳng thế mà Thúy Kiều cũng có lời khen: “Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời”

    Như vậy, thông qua đoạn trích này,người đọc không chỉ được chứng kiến cảnh phân xử đầy li kì, hấp dẫn của Thúy Kiều mà thông qua ngòi bút đầy tinh tế, tài năng của Nguyễn Du ta còn có thể hình dung về nhân vật một cách sắc nét, chân thực. Đây quả là một bức kí họa chân dung xuất sắc của một bậc kì tài.

    Mẫu Phân Tích Bài Thơ Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán Chọn Lọc – Mẫu 2

    Trải qua hết nạn nọ đến nạn kia, Kiều đã nếm đủ mọi điều cay đắng. Có lúc tưởng chừng nàng buông xuôi trước số phận: Biết thân chạy chẳng khỏi trời, Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh. Trong khi Kiều chới với, tuyệt vọng thì Từ Hải xuất hiện. Kiều gặp Từ Hải, một bước ngoặt quan trọng đã mở ra trên hành trình số phận của cô gái tài sắc họ Vương.

    Người anh hùng đội trời đạp đất chẳng những cứu Kiều thoát khỏi chốn lầu xanh nhơ nhớp mà còn đưa nàng từ thân phận con ong cái kiến bước lên địa vị một phu nhân quyền quý, cao hơn nữa là địa vị của một quan tòa.

    Đoạn trích Thúy Kiều báo ân báo oán miêu tả cảnh Kiều đền ơn đáp nghĩa những người đã cưu mang giúp đỡ mình trong cơn hoạn nạn, đồng thời trừng trị những kẻ bất nhân, tàn ác. Qua ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Du, chúng ta thấy được tấm lòng nhân nghĩa vị tha của Kiều và ước mơ công lí của nhân dân: ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác.

    Đoạn thơ chia làm hai phần. Mười hai câu đầu là cảnh Thúy Kiều báo ân. Những câu thơ còn lại là cảnh Thúy Kiều báo oán.

    Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật của Nguyễn Du rất đa dạng. Có khi ông dùng bút pháp ước lệ để miêu tả ngoại hình (đoạn Chị em Thúy Kiều); có khi lại dùng ngôn ngữ độc thoại, hoặc tả cảnh ngụ tình để miêu tả tâm trạng (đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích). Trong đoạn Thúy Kiểu báo ân báo oán, tính cách nhân vật được thể hiện qua ngôn ngữ đối thoại. Bằng ngôn ngữ đối thoại, Nguyễn Du đã khắc họa tính cách Thúy Kiều và Hoạn Thư thật tài tình.

    Đúng với bẳn chất nhân hậu vốn có, Thúy Kiều nghĩ tới chuyện đền ơn trước rồi mới báo oán sau. Người được mời đầu tiên là Thúc Sinh: Cho gươm mời đến Thúc Lang. Trước cảnh uy nghiêm gươm lớn giáo dài, chàng Thúc hoảng sợ đến mức Mặt như chàm đổ mình dường dẽ run, mất cả thần sắc, bước đi không vững. Hình ảnh tội nghiệp này hoàn toàn phù hợp với tính cách của Thúc Sinh, một con người tốt bụng, đa tình nhưng nhu nhược, dám yêu nhưng không đủ dũng cảm để bảo vệ người yêu.

    Lời nói của Kiều chứng tỏ nàng thực sự trân trọng hành động nghĩa hiệp mà Thúc Sinh đã dành cho nàng trong cơn hoạn nạn:

    Nàng rằng: “Nghĩa nặng nghìn non,
    Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không?
    Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,
    Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?…”

    Thúc Sinh chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, cứu nàng thoát khỏi cảnh đời ô nhục. Kiều đã có những tháng ngày tạm thời yên ổn trong cuộc sống chung với Thúc Sinh. Nàng gọi đó là nghĩa nặng nghìn non, nàng không bao giờ quên. Kiều ân cần hỏi han Thúc Sinh để trấn an chàng. Hai chữ người cũ mang sắc thái thân mật, gần gũi, biểu hiện tấm lòng biết ơn chân thành của nàng.

    Khi nói với Thúc Sinh Kiều dùng ngôn ngữ trau chuốt và sử dụng cả những điển cố, điển tích trong văn chương. Cách nói ấy phù hợp với thư sinh họ Thúc và diễn tả được thái độ trân trọng của Kiều đối với chàng.

    Vì muốn thoát khỏi cảnh : Sống làm vợ khắp người ta nên Kiều đã nhận lời làm lẽ Thúc Sinh. Nhưng cũng vì gắn bó với Thúc Sinh mà Kiều khốn khổ với thân phận tôi đòi khi rơi vào tay vợ cả Thúc Sinh là Hoạn Thư. Nàng cho rằng nỗi đau đớn của mình không phải do Thúc Sinh gây ra. Thúy Kiều cũng thấu hiểu hoàn cảnh éo le và tâm trạng của Thúc Sinh: yêu nàng nhưng không đủ sức bảo vệ nàng.

    Nàng không oán trách mà đem Gấm trăm cuốn bạc nghìn cân để đền đáp ơn nghĩa của Thúc Sinh và vẫn khiêm tốn bày tỏ: Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là. Điều đó khẳng định Thúy Kiều là người trọng nghĩa.

    Trong khi trò chuyện với Thúc Sinh, Thúy Kiều đã đã động tới Hoạn Thư, bởi vết thương lòng mà hoạn Thư gây ra cho nàng vần còn rỉ máu làm cho nàng không những chỉ đau đớn về thể xác mà còn đau đớn gấp bội về tinh thần.

    Cuộc đối đáp giữa Thúy Kiều và Hoạn Thư ở cảnh báo oán là một màn kịch ngắn nhưng có đầy đủ nhân vật, lời đối thoại và kịch tính:

    Thoắt trông nàng đã chào thưa:
    “Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!
    Đàn bà dễ có mấy tay,
    Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan
    Dễ dàng là thói hồng nhan
    Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều.

    Với Hoạn Thư, Kiều dùng cách nói nôm na, bình dị nhưng chứa đựng sự hả hê khó giấu. Những thành ngữ quen thuộc như kẻ cắp bà già gặp nhau, kiến bò miệng chén.., rất hợp với sự thay bậc đổi ngôi giữa Thúy Kiều và Hoạn Thư. Hành động trừng phạt cái ác của Thúy Kiều theo đúng quán điểm công lí của nhân dân nên nó phải được diễn đạt bằng lời ăn tiếng nói của nhân dân.

    Mọi hành động, lời nói của Thúy Kiều đều biếu thị thái độ mỉa mai, chì chiết đối với Hoạn Thư. vẫn một điều chào thưa, hai điều tiểu thư, vẫn dùng cách xưng hô như hồi còn làm Hoa Nô cho nhà họ Hoạn nhưng chính điều đổ đã khiến Hoạn Thư giật mình sợ hãi nhớ tới những ngày đày đọa Kiều, gieo cho Kiều bao nhiêu tai họa. Cách xưng hô này còn là một đòn quất mạnh vào mặt ả đàn bà họ Hoạn có máu ghen ghê gớm.

    Sự mỉa mai, đay nghiến của Kiều thế hiện khá rõ trong nhịp điệu thơ như dằn ra từng tiếng, trong những từ ngừ được lặp đi lặp lại với mục đích nhân mạnh: dễ có, dễ dàng, mấy tay, mấy mặt, mấy gan, đời xưa, đời này, càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều… Phải nói như thế mới. xứng với Hoạn Thư, con người xảo trá và tàn độc: Bể ngoài thơn thớt nói cười, Bề trong nham hiểm giết người không dao.

    Giọng điệu ấy cho thấy Thúy Kiều quyết trừng trị Hoạn Thư cho hả giận: Kiến bò miệng chén chưa lâu, Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa.

    Lúc đầu, Hoạn Thư cũng hồn lạc phách xiêu, nhưng với bản chất khôn ngoan, lọc lõi, ngay trong hoàn cảnh ấy, Hoạn Thư vẫn đủ bình tĩnh để liệu điều kêu ca. Những điều Hoạn Thư kêu ca thực chất là lí lẽ để Hoạn Thư tự gỡ tội cho mình.

    Trước hết, Hoạn Thư đưa ra tâm lí chung của phụ nữ: Rằng: “Tôi chút phận đàn bà, ghen tuông thì cũng người ta thường tình. Với lí lẽ này, sự đối lập giữa Thúy Kiều và Hoạn Thư đã bị xóa bỏ. Hoạn Thư khôn khéo đưa Kiều từ vị thế đối lập trở thành người cùng chung chút phận đàn bà.

    Sau đó, Hoạn Thư kín đáo kể công đã chạnh lòng thương xót mà cho Kiều ra chép kinh ở Quan Âm Các: Nghĩ cho khi gác viết kinh và dẫu biết mà không bắt giữ khi nàng bỏ trốn khỏi nhà họ Hoạn: Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo. Ý Hoạn Thư muốn nói rằng nếu tôi có tội thì chẳng qua cũng xuất phát từ tâm lí của giới nữ: Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai. Thế là từ một tội nhân, Hoạn Thư đã ranh mãnh hóa giải tất cả để trở thành nạn nhân đáng thương của chế độ đa thê.

    Cao tay hơn, cuối cùng Hoạn Thư nhận hết tội lỗi về mình: Trót lòng gây việc chông gai, Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng! Đòn hiểm này của tiểu thư họ Hoạn đã đánh trúng vào chỗ mạnh mà cũng là chỗ yếu của Kiều: lòng nhân hậu và khoan dung hiếm có.

    Trước những lời lẽ của Hoạn Thư, Kiều phải thừa nhận rằng ả Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời. Hoạn Thư đẩy Kiều tới chỗ khó xử: Tha ra thì cũng may đời, Làm ra mang tiếng con người nhỏ nhen. Cho nên dù đã nghiêm khắc răn đe Hoạn Thư nhưng rồi Kiều lại tha bổng: Đã lòng tri quá thì nên, Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay. Hoạn Thư đã biết lỗi, đã dập đầu xin tha thì Kiều cũng cư xử theo quan điểm của dân gian là Đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người chạy lại.

    Qua những lí lê để gỡ tội của Hoạn Thư, chúng ta thấy ả là loại người sâu sắc nước đời và quỷ quái tinh ma. Tuy nhiên, việc Hoạn Thư được tha bổng không hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự bào chữa của ả mà chủ yếu là do tấm lòng độ lượng của Kiều. Đoạn Thúy Kiều báo ân báo oán một lần nữa đã chứng minh tấm lòng vị tha, nhân hậu đáng quý của người con gái tài sắc họ Vương và cũng là của tác giả Truyện Kiều.

    Từ thân phận con người bị áp bức, đau khổ, Thúy Kiều đã trở thành vị quan tòa thực hiện công lí. Đoạn thơ phản ánh khát vọng và ước mơ công lí chính nghĩa sẽ chiến thắng của nhân dân thời đại Nguyễn Du.

    Mẫu Phân Tích Bài Thơ Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán Hay Đặc Sắc – Mẫu 3

    Đã bước sang thế kỉ XXI nhưng Nguyễn Du và Truyện Kiều vẫn có sức hấp dẫn lớn đối với hàng triệu độc giả Việt Nam và thế giới. Cho đến nay Nguyễn Du vẫn là đại thi hào duy nhất của dân tộc, Thúy Kiều vẫn là kiệt tác số một của văn học Việt Nam.

    Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Du viết: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, câu thơ ấy đã bộc lộ rất rõ quan điểm đề cao chữ tâm cũng như trái tim giàu lòng yêu thương của tác giả. Tấm lòng ấy phần nào được bộc lộ qua cách xử sự hết sức nhân văn trong đoạn trích “Thúy Kiều báo ân báo oán

    Dân gian ta có câu “Ơn đền oán trả”, quan điểm ấy đã thể hiện một thái độ rạch ròi, dứt khoát trong cách sống của người Việt. Có lẽ cách sống ấy đã có từ ngàn đời nay, được thử thách qua thời gian. Cho đến nay nó vẫn còn nguyên vẹn giá trị, chỉ có điều ơn trả thế nào, oán báo ra sao cho có văn hóa thì thật khó.

    Trong đoạn trích này thông qua việc báo ân oán của Thúy Kiều, đã gián tiếp bộc lộ văn hóa ứng xử của mình, chính ở đây tấm lòng nhân đạo của Nguyễn Du bộc lộ rõ hơn bao giờ hết. Trước hết là báo ân:

    Cho gươm đến mời Thúc Lang
    …..Mưa sâu cũng trả, nghĩa sâu cho vừa

    Trước tiên là báo ân, âu đó cũng là việc làm hợp lẽ đời. Thúc Sinh được mời đến trong cảnh oai nghiêm nơi Kiều xử án “Cho gươm mời đến Thúc Lang”. Hình ảnh “gươm” nói rõ quyền uy mà Kiều đang có trong tay nhờ gặp được Từ Hải – người anh hùng “đội trời đạp đất”. Kiều giờ đây thật vững vàng, từng trải để nhận ra người ơn, kẻ oán, hoàn toàn khác xa với cô Kiều với thân phận “con ong, cái kiến” trước kia.

    Chứng kiến sự uy nghiêm đó Thúc Sinh tỏ ra sợ hãi đến mức mất cả thần sắc “mặt như chàm đỏ” và người run như con chim dẽ. Hình ảnh tội nghiệp ấy hoàn toàn phù hợp với tính cách có phần nhu nhược của Thúc Sinh. Và đó cũng là chi tiết có ảnh hưởng đến cách báo oán Hoạn Thư ở đoạn sau.

    Sau hai câu đầu nói về Thúc Sinh, mười câu thơ còn lại là đoạn đối thoại của Kiều với Thúc Sinh. Qua lời nói của Kiều có thể thấy nàng rất trọng tấm lòng và sự giúp đỡ của Thúc Sinh dành cho nàng trong cơn hoạn nạn, nàng gọi đó là “nghĩa nặng nghìn non”. Đó là một cách so sánh rất cao, nghĩa nặng như hàng ngàn trái núi. Để xưng hô với Thúc Sinh có lúc Kiều gọi chàng là “người cũ” mang sắc thái thân mật, gần gũi; lúc lại dùng “cố nhân” mang sắc thái trang trọng, kính trọng. Có lẽ đó cũng là hai sắc thái tình cảm Thúy Kiều dành cho Thúc Sinh.

    Với Kiều việc Thúc Sinh đưa Kiều ra khỏi lầu xanh, cứu nàng thoát khỏi cảnh đời ô nhục, cho nàng những ngày tháng êm ấm trong cuộc sống gia đình là cái ơn vô cùng lớn mà cô không thể nào trả hết “Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” cũng chưa dễ xứng với ơn nghĩa đó. Cao hơn cả vật chất chính là tấm lòng “nghĩa nặng nghìn non” mà cô dành cho chàng Thúc.

    Khi nói với Thúc Sinh, Kiều dùng những từ Hán Việt: nghĩa, chữ tòng (theo), cố nhân, tạ lòng…điển cố Sâm Thương. Cách nói trạng trọng này phù hợp với chàng thư sinh họ Thúc, đồng thời diễn tả được tấm lòng biết ơn trân trọng của Thúy Kiều đối với Thúc Sinh.

    Trong khi nói với Thúc Sinh, Kiều đã nói về Hoạn Thư. Bởi vì nàng hiểu nỗi đau khổ của nàng khi gắn bó với Thúc Sinh không phải do chàng gây ra mà thủ phạm chính là Hoạn Thư “Tại ai há dám phụ lòng cố nhân”. Vẫn đang nói với Thúc Sinh nhưng khi nói về Hoạn Thư ngôn ngữ của Kiều lại hết sức nôm na, bình dị. Nàng dùng những thành ngữ quen thuộc “kẻ cắp bà già gặp nhau” hay “kiến bò miệng chén”.

    Cách nói ấy vừa tạo ngữ điệu đanh hơn vừa theo quan điểm “ác giả ác báo” của nhân dân nên mươn luôn lời ăn tiếng nói của nhân dân để diễn đạt. Từ cách nói này để cô chuyển sang Hoạn Thư – báo oán. Đoạn này gồm những lời đối thoại trực tiếp giữa Thúy Kiều và Hoạn Thư. Trong hai đoạn lời nói của Kiều lộ rõ thái độ mỉa mai với Hoạn Thư. Nàng vẫn cố tình giữ thái độ và cách xưng hô như hồi còn làm hoa nô trong nhà họ Hoạn:

    Thoắt trông nàng đã chào thưa:
    Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây.

    Thái độ “chào thưa” hay gọi Hoạn Thư là “tiểu thư” khi giữa hai người đã có sự thay đổi ngôi thứ, nhất là vào lúc này Kiều đang ngồi ở ghế xử án và Hoạn Thư là kẻ có tội thì điều đó quả là một đòn mỉa mai quất mạnh vào danh gia họ Hoạn. Nhưng không dừng lại ở đó sang những câu nói sau giọng của Kiều đã dần thay đổi, giọng đay nghiến, phẫn uất càng ngày càng tăng tiến. Người ta như cảm nhận được giọng nói rành rọt từng tiếng đang dằn ra, nhấn mạnh:

    Đàn bà dễ có mấy tay,
    ….
    Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều.

    Cách nói này quả là xứng với lối đối đáp “vỏ quýt dày có móng tay nhọn” nếu không cái mụ nham hiểm giết người không dao ấy lại lấn lướt như trước kia Kiều đã từng chịu trận. Đến đây ta thấy thái độ quyết trừng trị Hoạn Thư của Kiều cho bõ những ngày tháng Kiều bị mụ ta hành hạ.

    Vậy liệu Hoạn Thư đối phó thế nào trước thái độ ấy.

    Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
    Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca.

    Quả thật là khôn ngoan đến giảo hoạt. Nhận thấy điều bất lợi đang đến gần mụ ta đã cố gắng trấn tĩnh để “liệu điều kêu ca”.

    Rằng: Tôi chút phận đàn bà,
    Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.

    Một câu nói thật khôn khéo đến mức tinh vi. Thứ nhất mụ nói về tâm lý chung của phụ nữ: ghen tuông là chuyện thường tình, cách nói này vừa để kêu gọi lòng trắc ẩn của người đàn bà trong Kiều vừa có tính phổ quát. Thứ hai ngôn ngữ sắc như dao “chút phận” – hạ thấp mình thành nhỏ bé, “thường tình” – đó là chuyện bình thường chứ không đáng tội: “chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”.

    Qua miệng lưỡi biện bạch của mụ, tội nhân đã trở thành nạn nhân của chế độ đa thê. Mà đã là nạn nhân ai lại nỡ trừng trị. Hoạn Thư quả là một luật sư tự bào chữa cực giỏi. sau đó như lẽ tất yếu để “lấy lòng” Thúy Kiều, Hoạn Thư đã “kể công” với Kiều: cho nàng ra gác Quan Âm viết kinh, không bắt giữ khi nàng bỏ trốn khỏi nhà họ Hoạn. Cuối cùng Hoạn Thư nhận tội và trông chờ tấm lòng bao dung, độ lượng của Kiều.

    Hoạn Thư đã biện bạch đến thế nếu Kiều quyết trả thù thì lại trở thành người nhỏ nhen, ích kỷ. Và thái độ của Kiều đã thay đổi so với đoạn trước. Hoạn Thư đã biết lỗi “Đánh người chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại”.

    Như vậy qua đoạn trích này ta thấy Hoạn Thư quả là một người “quỷ quái, tinh ma”. Tất nhiên việc Hoạn Thư được tha bổng không chỉ vì có khả năng “tự bào chữa” mà chủ yếu là do tấm lòng vị tha độ lượng của Kiều. Qua đó tấm lòng nhân ái bao dung của người con gái ấy một lần nữa lại sáng lên.

    Đoạn thơ là sự phản ánh ước mơ, khát vọng công lý chính nghĩa của thời đại Nguyễn Du: người bị áp bức, đau khổ được ngồi ghế quan tòa cầm cán cân công lý để thực hiện triết lý sống của dân gian “ơn đền oán trả”.

    Mẫu Phân Tích Bài Thơ Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán Tiêu Biểu – Mẫu 4

    Đền ơn trả oán là một mô típ rất quen thuộc trong văn học dân gian, đặc biệt là trong các câu chuyện cổ tích. Người có công lao khó nhọc, ăn ở hiền lành, hay làm điều tốt thì sẽ được đền bù, kẻ ác sẽ bị trừng trị đích đáng. Đó là mơ ước của nhân dân ta.

    Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du cũng dựng lên một cảnh báo ân báo oán. Thế nhưng, khác rất nhiều so với các câu chuyện cổ tích, cảnh báo ân báo oán trong Truyện Kiều không đơn giản là sự thể hiện khát vọng công lí của nhân dân. Sức hấp dẫn của đoạn trích thể hiện chủ yếu ở khả năng khắc hoạ tâm lí nhân vật của nhà thơ.

    Cả đoạn trích gồm 34 câu với ba nhân vật, rất ít lời miêu tả, hầu như chỉ có lời Thuý Kiều nói với Thúc Sinh, lời qua tiếng lại giữa Thuý Kiều và Hoạn Thư, vậy mà không chỉ chân dung, từ giọng điệu, tính tình của từng nhân vật đều được bộc lộ hết sức sinh động. Có thể dễ dàng nhận thấy trong đoạn trích có hai cảnh: báo ân và báo oán.

    Cảnh báo ân: Chàng Thúc Sinh khi được “gươm mời đến” thì “Mặt như chàm đổ, mình dường dễ run. Thúc Sinh run vì nhiều lẽ: trước cảnh ba quân gươm giáo sáng loà; được chứng kiến Thuý Kiều đã trừng trị những kẻ đã gây bao đau khổ cho đời nàng như thế nào lại càng dễ run hơn nữa.

    Thúc Sinh không thể nghĩ rằng mình lại được trả ân bằng “gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân” bởi trong thực tế, chàng ta chẳng có công lao gì nhiều với Thuý Kiều. Ngay cả khi chứng kiến vợ mình hành hạ Thuý Kiều, Thúc Sinh cũng chỉ biết ngậm đắng nuốt cay, không biết bênh vực thế nào. Vậy tại sao Thúc Sinh lại được Thuý Kiều “báo ân” hậu hĩnh như thế?

    Lí giải được điều này, chúng ta sẽ hiểu thêm về Thuý Kiều, từ đó càng hiểu thêm nghệ thuật xây dựng nhân vật của Nguyễn Du. Nhân vật Thuý Kiều đã được xây dựng rất nhất quán từ đầu đến cuối tác phẩm. Dù khi phải dằn lòng trao duyên cho Thuý Vân, khi một mình đối cảnh ở lầu Ngưng Bích hay khi có đủ vị thế để báo ân báo oán sòng phẳng thì Thuý Kiều vẫn luôn là người nặng tình nặng nghĩa:

    “Nàng rằng: “Nghĩa nặng tình non,
    Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
    Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng
    Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?
    Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân,
    Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là…”.

    Lí lẽ của Thuý Kiều rất rõ ràng: đây không phải là sự báo ân mà là sự trả nghĩa, đúng hơn là trả cái tình mà Thúc Sinh đã dành cho nàng trước đây. Như vậy, đối với Thúc Sinh, Thuý Kiều đã không xử bằng lí mà bằng cái tình của nàng. Điều này có vẻ như không hợp với cách nghĩ thông thường, không thoả mãn được một số bạn đọc khó tính nhưng chính ở đây lại làm bật lên giá trị nghệ thuật của tác phẩm: Nguyễn Du đã không xây dựng nhân vật Thuý Kiều theo một công thức định sẵn.

    Ngược lại, ông đã tạo nên một nhân vật rất sinh động, rất đời thường. Kiều đã suy nghĩ, nói năng và hành động hoàn toàn hợp với phẩm chất và tính cách của nàng. Điều này càng được chứng minh rõ ràng hơn qua cảnh tiếp theo.

    Cảnh báo oán: Đối tượng báo oán ở đây là Hoạn Thư vợ Thúc Sinh. Mặc dù không trực tiếp đẩy Thuý Kiều vào lầu xanh nhưng Hoạn Thư cũng là kẻ đã gây không ít đau khổ cho cuộc đời Kiều. Con người đã trở thành hình tượng điển hình cho sự ghen tuông ấy đã lặng lẽ cho người đến bắt nàng về, đã dựng cảnh trớ trêu: bắt nàng hầu rượu Thúc Sinh để mà hả hê sung sướng khi tận mắt chứng kiến nỗi cực nhục của cả hai người. Thuý Kiều hẳn không thể quên nỗi nhục hôm ấy, theo đó thì tội của Hoạn Thư đáng chết một trăm lần.

    Thế nhưng Nguyễn Du đã không để cho lí trí của mình dẫn dắt sự việc một cách giản đơn. Ông âm thầm chứng kiến cuộc đối đầu giữa hai người đàn bà (mà theo Thuý Kiều là “kẻ cắp, bà già gặp nhau”), thuật lại cuộc đấu khẩu của họ.

    Biệt tài của Nguyễn Du là khi chứng kiến và miêu tả cuộc đụng độ “nảy lửa” ấy, ông đã không thiên vị một ai, không đứng về phía nào. Ông để cho sự việc tự nó phát triển, từ đó đã tạo nên một trong những chi tiết nghệ thuật giàu chất sống, chất “tiểu thuyết” nhất của tác phẩm.Vị thế giữa hai người phụ nữ đã hoàn toàn đảo ngược.

    Trước đây, khi Hoạn Thư làm chủ tình thế, Thuý Kiều không những bị đánh đập mà còn bị làm nhục theo một cách thức rất riêng của Hoạn Thư. Nỗi đau tinh thần của Kiều lúc ấy còn lớn gấp hàng chục lần nỗi đau thể xác. Thế nhưng giờ đây, người làm chủ tình thế lại là Thuý Kiều. Chỉ cần nàng phẩy tay một cái, hẳn Hoạn Thư sẽ “thịt nát xương tan”.

    “Thuý Kiều đã khởi sự “báo oán” như thế nào?
    Thoắt trông nàng đã chào thưa:

    Dễ dàng là thói hồng nhan,
    Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều”.

    Ngòi bút miêu tả của Nguyễn Du thật đáng nể phục. Nàng Kiều duyên dáng, thuỳ mị, “e lệ nép vào dưới hoa” ngày nào, giờ đối diện với kẻ thù, dường như đã hóa ra một con người khác.

    Nếu như Kiều ra lệnh trừng phạt Hoạn Thư ngay thì không có gì nhiều để bàn luận. Nhưng Kiều đang sung sướng hưởng thụ cảm giác của kẻ bề trên, đang tìm cách dùng lời nói để “rứt da rứt thịt” Hoạn Thư theo đúng cách mà trước đây mụ ta đã đối xử với nàng.

    Bằng giọng điệu đầy vẻ châm biếm, Kiều gọi Hoạn Thư là “tiểu thư”, cẩn thận báo cho mụ ta biết về “luật nhân quả” ở đời (“Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”). Kiều tin chắc vào chiến thắng đến mức sẵn sàng chấp nhận đấu khẩu! Thế nhưng Hoạn Thư thật xứng với danh tiếng

    Bề ngoài thơn thớt nói cười
    Mà trong nham hiểm giết người không dao”:
    Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
    Khấu đầu dưới trướng liệu điều kêu ca.
    Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,
    Ghen tuông thì cũng người ta thường tình…”.

    Giữa dáng điệu bề ngoài với lời nói bên trong của Hoạn Thư có cái gì đó rất mâu thuẫn. Nếu quả thật đã “hồn lạc phách xiêu”, Hoạn Thư khó có thể biện hộ cho mình một cách khéo léo như vậy. Không những khẳng định “ghen tuông chỉ là thói thường của đàn bà”, Hoạn Thư còn kể đến những việc mà tưởng như mụ đã “làm ơn” cho Thuý Kiều: cho ra nhà gác để viết kinh, khi Thúy Kiều trốn đã không đuổi bắt,…Đó là những lí lẽ rất khôn ngoan mà Kiều khó lòng bác bỏ được.

    Thì ra, vẻ “hồn lạc phách xiêu” chỉ là bộ điệu mà mụ ta tạo ra để đánh vào chỗ yếu của Thúy Kiều. Đứng trước cơ hội duy nhất để có thể thoát tội, mụ đã vận dụng tất cả sự khôn ngoan, lọc lõi của mình.

    Rốt cuộc, trong cuộc đấu trí, đấu khẩu đó người thua lại chính là Thuý Kiều. Bằng chứng là khi nghe xong những lời “bào chữa” của Hoạn Thư, Thuý Kiều đã xuôi lòng mà tha bổng cho mụ, không những thế lại còn khen: “Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời” và tự nói với mình rằng: “Làm ra mang tiếng con người nhỏ nhen”.

    Kết cục đó có thể bất ngờ với người đọc nhưng lại rất hợp lí với lô gích của tác phẩm. Đoạn “báo ân” với Thúc Sinh đã cho thấy: dù thế nào đi nữa, Kiều vẫn là người phụ nữ đa sầu đa cảm, nặng tình nặng nghĩa. Đây là một đoạn trích rất hấp dẫn, một sáng tạo đặc sắc của Nguyễn Du.

    Bằng cách để cho các sự việc tự vận động, nhân vật tự bộc lộ mình qua những lời đối thoại, Nguyễn Du đã đưa nghệ thuật miêu tả nhân vật của văn học trung đại tiến một bước rất dài. Miêu tả chân thực và sinh động đời sống như nó đang xảy ra, đó là một yếu tố quan trọng tạo nên “Chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du”.

    Mẫu Phân Tích Bài Thơ Thúy Kiều Báo Ân Báo Oán Hay Sâu Sắc – Mẫu 5

    Trong Truyện Kiều, cảnh báo ân báo oán là một tình huống giàu kịch tính, thể hiện ước mơ công lí ở đời. Cảnh báo ân báo oán được kể trong một đoạn thơ dài 162 câu thơ (từ câu 2289 đến câu 2450), Thúc Sinh, mụ quản gia, vãi Giác Duyên được báo ân. Hoạn Thư cùng 7 tên khác bị báo oán. Từ Hải chuộc Kiều ra khỏi chốn thanh lâu, Kiều trở thành một mệnh phụ phu nhân. Chẳng bao lâu sau, Từ Hải đã có binh cường tướng mạnh:

    “Trong tay mười vạn tinh binh,
    Kéo về đóng chật một thành Lâm Tri.”

    Kiều đã dựa vào uy thế Từ Hải để báo ân báo oán. Trong Truyện Kiều, cảnh báo ân báo oán là một tình huống giàu kịch tính, thể hiện ước mơ công lí ở đời. Cảnh báo ân báo oán được kể trong một đoạn thơ dài 162 câu thơ (từ câu 2289 đến câu 2450)

    “Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà,
    Bên là Ưng Khuyển, bên là Sở Khanh.
    Tú Bà với Mã Giám Sinh,
    Các tên tội ấy đáng tình còn sao?”

    Ở đây, chúng ta chỉ nói đến hai tình tiết: Kiều báo ân Thúc Sinh và báo oán Hoạn Thư. Tâm lí và cách ứng xử của Thúy Kiều, tính sáng tạo của Nguyễn Du là những điều mà ta có thể tìm hiểu và cảm nhận trong đoạn thơ này.

    Sau khi mắc lừa Sở Khanh, Thúy Kiều bị Tú Bà bắt ép làm gái lầu xanh. Và Kiều đã gặp Thúc Sinh “cũng nòi thư hương”, là con rể của quan Thượng thư, một con người phong tình “quen thói bốc rời”. Lúc đầu chỉ là “trăm gió”, nhưng về sau, Thúc Sinh và Thúy Kiều trở thành “đá vàng”.

    Thúc Sinh đã chuộc Kiều, lấy làm vợ lẽ: “Gót tiên phút đã thoát vòng trần ai”. Mặc dù sau này có chuyện đánh ghen, bị làm nhục, nhưng Thúc Sinh trong điều kiện có thể, nói với Hoạn Thư đưa Kiều ra Quan Âm các “giữ chùa, chép kinh”, thoát khỏi kiếp tôi đòi. Tuy “thấp cơ thua trí đàn bà” nhưng tình cảm của Thúc Sinh đối với Thúy Kiều, trong bi kịch vẫn “nặng lòng”:

    “Bây giờ kẻ ngược người xuôi,
    Biết bao giờ lại nối lời nước non?”

    Có thể chê trách Thúc Sinh này nợ, nhưng Thúc Sinh là ân nhân của Kiều, đã giúp Kiều hoàn lương. Kiều là một người phúc hậu, nên nàng không bao giờ có thể quên ơn chàng. Trong cuộc tầm nã của ba quân, gia đình Thúc Sinh đã được Kiều quan tâm “giữ giàng”:

    “Lại sai lệnh tiễn truyền qua,
    Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên.”

    Cảnh báo ân diễn ra, Kiều đã dùng một chữ “mời” rất trọng vọng “cho gươm mời đến Thúc Lang”. Kiều nói về “nghĩa”, về chữ “tòng”, đề cao đạo lí thủy chung. Thúc Sinh là “người cũ”, là “cố nhân” mà Kiều “há dám phụ”. Nàng khẳng định cái tình nghĩa của Thúc Sinh đối với mình ngày xưa là vô cùng to lớn, sâu nặng: “nghĩa nặng nghìn non…”.

    Kiều đã dùng một số từ như: “nghĩa, nghìn non, Sâm Thương, chữ tòng, người cũ, cố nhân…” cùng với giọng điệu ôn tồn, biểu lộ một tấm lòng trân trọng, biết ơn một người đàn ông đã từng yêu thương mình, cứu vớt mình. Trái tim của Kiều rất nhân tình, nhân hậu; cách ứng xử của nàng đối với Thúc Sinh là giàu ân nghĩa thủy chung:

    “Nàng rằng: “Nghĩa nặng nghìn non,
    Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
    Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,
    Tại ai há dám phụ lòng cố nhân?”

    Cái lễ vật chất mà Kiều báo ân Thúc Sinh cũng thật “hậu”, khẳng định cái nghĩa đối với “cố nhân” trong những năm tháng ở Lâm Tri là vô cùng sâu nặng. Sau đó, Kiều dùng lời lẽ dân dã, sắc sảo để nói về “vợ chàng”. Bao năm tháng đã trôi qua, lòng Kiều vẫn chưa nguôi. “Miếng ngon nhớ mãi, đòn đau nhớ đời” có phải như thế không? Vị thế đã đổi thay: kẻ là phạm tội, người là quan tòa đang ngồi trong trướng hùm giữa cảnh “gươm lớn giáo dài”:

    “Vợ chàng quỷ quái tinh ma,
    Phen này kè cắp bà già gặp nhau.
    Kiến bò miệng chén chưa lâu,
    Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa.”

    Kiều đã có 2 cách nói khác nhau: nói về ân nghĩa thì trang trọng, ôn tồn; nói về oán thì nôm na, chì chiết. Nguyễn Du đã tạo nên hai giọng điệu, hai thứ ngôn ngữ trong một lượt lời của Thúy Kiều, điều đó cho thấy thi hào rất tinh tế, sâu sắc khi thể hiện tâm lí nhân vật.

    Dù là được báo ân, nhưng đứng trước cảnh “Vác đòng chật đất, tinh kì rợp sân”, Thúc Sinh cực kì khủng khiếp: “Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run”, mồ hôi toát ra “ướt dầm”, không nói được một lời nào, sống trong tâm trạng vừa “mừng”, vừa “sợ”:

    Từ lần bị đánh ghen đêm ấy, đến nay đã bao năm tháng? Gặp lại Hoạn Thư lần này, trong tư thế của người “chiến thắng” ra tay báo oán, Kiều đã “chào thưa” bằng những lời “mát mẻ”:

    Thoắt trông nàng đã chào thưa:
    Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!

    Giọng nói trở nền chì chiết, đay nghiến. Các chữ “mấy tay”, “mấy mặt”, “mấy gan” như những mũi dao sắc lạnh:

    “Đàn bà dễ có mấy tay
    Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!”

    Kiều nghiêm giọng cảnh cáo Hoạn Thư đã từng hành hạ mình, làm cho mình đau khổ: “Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều”. Là “thủ phạm” đang đứng giữa pháp trường, xung quanh là bọn đao phủ đã “gươm tuốt nắp ra”, Hoạn Thư “hồn lạc phách xiêu”.

    Người đàn bà này tự biết tội trạng mình, cảnh ngộ mình, khó lòng thoát khỏi lưỡi gươm trừng phạt? Vốn khôn ngoan, sắc sảo, đứa con của “họ Hoạn danh gia” đã trấn tĩnh lại, tìm cách gỡ tội. Một cái “khấu đẩu” giữ lễ, khi chân tay đang bị trói.

    Trước hết nhận tội “ghen tuông” và lí giải đó là chuyện “thường tình” của đàn bà. Tiếp theo Hoạn Thư gợi lại chút “ân tình” ngày xưa: một là, đã cho Kiều xuống Quan Âm các “giữ chùa chép kinh”, không bắt làm thị tì nữa; hai là, khi Kiều bỏ trốn mang theo chuông vàng khánh bạc, đã bỏ qua. Cách nói rất khéo, chỉ gợi sự thật và chuyện cũ ra, chỉ người trong cuộc mới biết. “Nghĩ cho” là nhớ lại cho, suy nghĩ lại cho:

    “Nghĩ cho khi gác viết kinh,
    Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.”

    Đối với Kiều, Hoạn Thư đã từng nói với Thúc Sinh: “Rằng: tài nên trọng mà tình nên thương”. Tuy “chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai”, nhưng trong thâm tâm, Hoạn Thư “kính yêu” Thúy Kiều. Hoạn Thư tự nhận tội và xin Thúy Kiều rộng lượng:

    “Trót lòng gây việc chông gai,
    Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng.”

    Lời gỡ tội của Hoạn Thư vừa có lí, vừa có tình. Lời cầu xin đúng mực, chân thành. Vì thế, Kiều phải “khen cho” “Khôn ngoan đến mức nói năng phải lời”. Không thể là “người nhỏ nhen”, Kiều đã tha tội cho Hoạn Thư:

    “Đã lòng tri quá thì nên:
    Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.”

    Sự việc diễn ra quá bất ngờ, ngoài sức tưởng tượng của nhiều người, vốn là một phụ nữ trung hậu, đã từng nếm trải bao cay đắng và ngang trái trong cuộc đời, vả lại Kiều cũng tự biết rằng mình đã xâm phạm đến hạnh phúc của người khác. Tha tội Hoạn Thư, Thúy Kiều càng tỏ ra vô cùng cao thượng.

    Ai đã từng đọc bản dịch Kim Vân Kiều truyện, đem đối chiếu với Truyện Kiều, ta mới thấy hết tài sáng tạo của ngòi bút thiên tài Nguyễn Du, nhất là trong cảnh báo ân báo oán. Cảnh pháp trường thời trung cổ được miêu tả ước lệ mà không kém phần uy nghiêm! Lời thoại rất gọn mà sắc đã làm nổi bật tâm lí, tính cách nhân vật Thúc Sinh lành mà nhát sợ, Hoạn Thư thì khôn ngoan, sắc sảo. Kiều rất trung hậu, cao thượng, bao dung.

    Nguyễn Du đã sáng tạo nên những lời thoại biến hóa để nói lên chuyện ân oán, cái lẽ đời xưa nay, ca ngợi sự thủy chung tình nghĩa, lên án bọn bạc ác tinh ma. Cảnh báo ân báo oán là một tình tiết rất đậm làm nổi bật tinh thần nhân đạo của Truyện Kiều.

    Giới thiệu thêm tác phẩm💚 Đi Trong Hương Tràm 💚 Những Mẫu Phân Tích Hay Nhất

    Viết một bình luận