Thơ Trần Tế Xương: Tác Giả, Tác Phẩm + Tuyển Tập Thơ Hay

Thơ Trần Tế Xương ❤️️ Tác Giả, Tác Phẩm + Tuyển Tập Thơ Hay ✅ Tổng Hợp Các Thông Tin Về Cuộc Đời Và Sự Nghiệp Làm Thơ Của Trần Tế Xương.

Tiểu Sử Cuộc Đời Tác Giả Trần Tế Xương

Trần Tế Xương là một nhà thơ trào phúng – trữ tình nổi tiếng trong nền văn học Việt Nam. Cuộc đời của ông không mấy thuận lợi trong thi cử, trải qua 8 khoa thi đều hỏng thế nhưng ông vẫn lựa chọn kiên trì đến cùng.

  • Trần Tế Xương sinh ngày 10/8/1871 tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, Nam Ðịnh và mất ngày 29//1907 ở làng Ðịa Tứ cùng huyện.
  • Trần Tế Xương tên thật là Trần Duy Uyên, quen gọi là Tú Xương, tự là Mặc Trai, hiệu là Mộng Tích, đến khi thi Hương mới lấy tên là Trần Tế Xương.
  • Ông thuộc dòng dõi nho gia, vốn là họ Phạm, đổi thành họ Trần là bởi vào đời nhà Trần lập công lớn được phong quốc tính (vua cho đổi theo họ nhà vua).
  • Cuộc đời ngắn ngủi, nhiều gian truân:
    • Cuộc đời ông chỉ gắn liền với thi cử, tính ra có tất cả tám lần. Đó là các khoa: Bính Tuất (1886); Mậu Tý (1888); Tân Mão (1891); Giáp Ngọ (1894); Đinh Dậu (1897); Canh Tý (1900); Quý Mão (1903) và Bính Ngọ (1906).
    • Sau 3 lần hỏng thi mãi đến lần thứ tư khoa Giáp Ngọ (1894) ông mới đậu tú tài, nhưng cũng chỉ là tú tài thiên thủ (lấy thêm).
    • Sau đó không sao lên nổi cử nhân, mặc dù đã khá kiên trì theo đuổi. Khoa Quý Mão (1903) Trần Tế Xương đổi tên thành Trần Cao Xương tưởng rằng bớt đen đủi, nhưng rồi hỏng vẫn hoàn hỏng.
  • Trần Tế Xương cưới vợ và sinh được 8 người con – 6 trai và 2 gái. Cuộc sống của gia đình ông rất khó khăn vì con đông, nhà nghèo, công việc lại không ổn định nên mọi chi tiêu trong gia đình đều do một tay vợ ông – bà Phạm Thị Mẫn hay còn gọi bà Tú chăm lo và quán xuyến.
  • Năm 1907, ông đột ngột qua đời trong một cơn cảm lạnh, để lại sự tiếc nuối cho nhiều người yêu quý con người cũng như tài năng của ông.

Xem thêm chùm 🌿Các Bài Thơ Tú Xương Viết Về Vợ Hay Nhất 🌿

Sự Nghiệp Sáng Tác Nhà Thơ Trần Tế Xương

Chia sẻ cho bạn đọc các thông tin nổi bật về sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Trần Tế Xương.

  • Mặc dù sự nghiệp cầm bút không quá dài thế nhưng số lượng tác phẩm Trần Tế Xương để lại cho nền văn học dân tộc quả là khiến người ta phải nể phục. Với số lượng tác phẩm trên 150 bài thơ đủ các thể loại.
  • Hầu hết, nội dung các tác phẩm của ông đều nói về khoa cử, nho học với hình ảnh của một nền nho học đang thoái hóa trầm trọng và cảnh nghèo khó của các gia đình trong hoàn cảnh đất nước loạn lạc, lên án xã hội thực dân – nửa phong kiến.
  • Ngoài ra, ông còn nổi tiếng là ngòi bút trào phúng, châm biết phê phán chế độ phong kiến mục nát, bọn thực dân Pháp tàn ác, quan lại, tay sai cho giặc. Ông luôn đứng về phía người dân nghèo.
  • Đặc biệt, trong sự nghiệp cầm bút của mình ông còn khai thác thêm đề tài viết về vợ của mình  để bày tỏ tình yêu thương đối với người có sự hy sinh cao cả, chịu thương chịu khó lo cho gia đình và chồng còn. Nổi bật có bài thơ “Thương vợ” được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú đường luật. 
  • Một số tác phẩm như: Vịnh khoa thi Hương, Giễu người thi đỗ, Ông cò, Phường nhơ, Thương vợ, Văn tế sống vợ,…
  • Dù ra đi khi tuổi đời còn khá trẻ – chỉ mới 37 tuổi, nhưng Trần Tế Xương đã để lại cho văn học dân tộc một sự nghiệp thơ ca đáng tự hào. Cho đến ngày nay những sáng tác của ông vẫn còn được truyền tụng rất nhiều, và cũng có nhiều giai thoại kể về cuộc đời và sự nghiệp của ông.

Xem thêm chùm 👉 Thơ Chúc Tết Của Tú Xương [Tuyển Tập Những Bài Hay Nhất]

Phong Cách Sáng Tác Của Trần Tế Xương

Điểm qua các nét chính trong phong cách sáng tác của Trần Tế Xương.

  • Nét đặc sắc trong phong cách nghệ thuật của Trần Tế Xương đó chính là sự kết hợp hài hòa và ấn tượng giữa các yếu tố hiện thực, trào phúng và trữ tình nhằm thể hiện nỗi lòng của nhà thơ với đất nước, cuộc đời và con người.
  • Bức tranh hiện thực trong thơ Tế Xương là một bức tranh xám xịt, dường như chỉ có rác rưởi, đau buồn, vì hiện thực thối nát của xã hội thực dân – nửa phong kiến.
  • Với giọng văn châm biếm sâu cay, thơ văn của ông đã đả kích bọn thực dân phong kiến, bọn quan lại làm tay sai cho giặc, bọn bán rẻ lương tâm chạy theo tiền bạc, bọn rởm đời lố lăng trong buổi giao thời.

Giới thiệu bài 🔰 Văn Tế Sống Vợ của Trần Tế Xương🔰

Tuyển Tập Các Tác Phẩm Của Nhà Thơ Trần Tế Xương

Sự nghiệp sáng tác của ông đã để lại cho nền văn học nước nhà nhiều tác phẩm có giá trị đến ngày nay. Dưới đây là tuyển tập các tác phẩm của nhà thơ Trần Tế Xương:

  • Anh kiệt chơi hoang (Giễu bạn)
  • Áo bông che bạn
  • Ba cái lăng nhăng
  • Bác cử Nhu
  • Bảo người bán sực tắc
  • Bắt được đồng tiền
  • Bợm già
  • Bỡn người làm mối
  • Bỡn ông ấm Điềm
  • Bỡn ông phó bảng
  • Bỡn tri phủ Xuân Trường
  • Buồn thi hỏng
  • Cái nhớ
  • Cảm hoài
  • Cảm hứng
  • Cảm Tết (Tết đến)
  • Cảnh Tết nhà cô đầu
  • Câu đối Tết: Không dưng xuân – Có nhẽ trời
  • Câu đối Tết: Nực cười thay – Thôi cũng được
  • Câu đối Tết: Thiên hạ xác rồi – Nhân tình trắng thế
  • Câu đối Tết: Vui xuân – Người học
  • Câu đối Tết: Xuân về chớ để xuân đi – Năm mới khác gì năm cũ
  • Câu đối than thân: Ngoài ba mươi – Sao được như
  • Câu đối than thân: Nợ có chết ai đâu – Trời để sống ta mãi
  • Câu đối than thân: Trúc báo bình an – Cò nhiều văn tự
  • Cháu khóc cô chồng
  • Chế bạn lấy vợ bé
  • Chế gái đĩ
  • Chế ông đốc học
  • Chế ông huyện Đ
  • Chị Hằng, thằng Cuội
  • Chiêm bao
  • Chợt giấc
  • Chú Mán
  • Chữ nho
  • Chừa…
  • Chửi cậu ấm
  • Con buôn
  • Cô hầu trách quan lớn
  • Dạ hoài
  • Dại khôn
  • Đại hạn
  • Đánh tổ tôm
  • Đạo đức giả
  • Đau mắt
  • Đất Vị Hoàng
  • Đề ảnh
  • Để vợ chơi nhăng
  • Đêm buồn
  • Đêm dài
  • Đi hát mất ô
  • Đi thi
  • Đi thi nói ngông
  • Đổi thi
  • Đùa bạn vào nhà pha
  • Gái buôn (I)
  • Gái buôn (II)
  • Gái goá nhà giàu
  • Gần Tết than việc nhà
  • Già chơi trống bỏi
  • Giễu người thi đỗ
  • Giễu ông Đồ Bốn ở phố Hàng Sắt
  • Giễu ông đội
  • Gửi cho cô đào
  • Gửi người cũ
  • Gửi ông thủ khoa Phan
  • Gửi Phan Bội Châu
  • Hát cô đầu
  • Hễ mai tớ hỏng
  • Hoá ra dưa
  • Học trò ngủ cạnh thầy
  • Hỏi đùa mình
  • Hỏi mình
  • Hỏi ông trăng
  • Hỏi ông trời
  • Hỏng thi khoa Quí Mão (1903)
  • Hót của trời
  • Kể lai lịch
  • Khen người hàng sắt
  • Khoa Canh Tý
  • Khóc em gái
  • Khóc vợ bạn
  • Không chiều đãi
  • Không học vần Tây
  • Không vay mà phải trả
  • Khuyên học trò đi thi
  • Làm lẽ thứ tư1
  • Lấy lẽ1
  • Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (1897) (Vịnh khoa thi hương)
  • Lên đồng
  • Lụt năm Bính Ngọ (1906)
  • Mất hai hào
  • Mẹ cái lầm (phú đắc)
  • Mồng hai Tết viếng cô Ký
  • Một nén tâm hương
  • Mùa nực mặc áo bông
  • Mưa tháng bảy
  • Mừng chú làm nhà
  • Mừng nghị viên
  • Mừng ông cử lấy vợ kế
  • Mừng ông lang
  • Năm mới
  • Năm mới chúc nhau
  • Ngày xuân của làng thơ
  • Ngẫu chiếm
  • Ngẫu hứng
  • Nghèo
  • Nghèo mà vui
  • Ngón chầu
  • Nhà nho giả danh
  • Nhớ bạn phương trời
  • Nước buôn
  • Ông ấm Mốc
  • Ông cò
  • Ông cử Ba
  • Ông cử thứ năm
  • Ông Hàn
  • Ông Hàn bị vợ doạ bỏ
  • Ông lão
  • Ông tiến sĩ mới
  • Phòng không
  • Phố Hàng Song
  • Phú hỏng khoa Canh Tý
  • Phú thầy đồ
  • Phường hát tuồng
  • Phường nhơ
  • Quan tại gia
  • Sắm Tết
  • Sông Lấp
  • Sư ông và mấy ả lên đồng
  • Sư ở tù
  • Ta chẳng ra chi
  • Tái giá
  • Tặng người quen
  • Tết dán câu đối Câu đối ngày Tết
  • Tết tặng cô đầu
  • Thái vô tích
  • Than cùng
  • Than đạo học
  • Than nghèo
  • Than nước lụt Bính Ngọ
  • Than sự thi
  • Than thân
  • Than thân chưa đạt
  • Thành pháo
  • Thăm bạn nghèo
  • Thầy đồ dạy học
  • Thề với người ăn xin
  • Thi cơm rượu
  • Thi hỏng
  • Thi phúc
  • Thiếu nữ đi tu
  • Thói đời
  • Thông gia với quan
  • Thú cô đầu
  • Thương vợ
  • Tiến sĩ giấy
  • Tú Tây Hồ, đồ Xuân Dục
  • Tự cười mình
  • Tự đắc
  • Tự ngụ
  • Tự tiếc
  • Tự trào (I)
  • Tự trào (II)
  • Tự vịnh (phú đắc)
  • Vay sư không được
  • Văn tế sống vợ
  • Vị Hoàng hoài cổ
  • Vì tiền Thói đời
  • Viếng bạn
  • Vịnh cô Cáy chợ Rồng
  • Vợ chồng Ngâu
  • Vợ tế chồng
  • Xuân hứng
  • Xuân nhật ngẫu hứng

Giới thiệu bài 👉 Vịnh Khoa Thi Hương (Nội Dung, Nghệ Thuật, Phân Tích)

Những Bài Thơ Trào Phúng Của Tú Xương

Dưới đây là những bài thơ mang tính trào phúng nổi tiếng của Tú Xương.

Quan Tại Gia

Một ngọn đèn xanh, mấy quyển vàng,
Bốn con làm lính, bố làm quan.
Câu thơ, câu phú, sưu cùng thuế,
Nghiên mực, nghiên son, tổng với làng.
Nước quạt chưa xong, con nhảy ngựa,
Trống hầu vừa dứt, bố lên thang.
Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ,
Đem chuyện trăm năm giở lại bàn.

Nghèo

Chẳng khôn cũng biết một hai điều,
Chẳng tội gì hơn cái tội nghèo.
Danh giá nhường này không lẽ bán,
Nhân duyên đến thế hãy còn theo.
Tấm lòng nhi nữ không là mấy,
Bực chí anh hùng lúc túng tiêu.
Có lẽ phong trần đâu thế mãi
Chốn này tình phụ, chốn kia yêu.

Đi Hát Mất Ô

Đêm qua anh đến chơi đây
Giày chân anh dận, ô tay anh cầm
Rạng ngày sang trống canh năm
Anh dậy, em hãy còn nằm trơ trơ
Hỏi ô, ô mất bao giờ
Hỏi em, em cứ ậm ờ không thưa
Chỉn e rầy gió mai mưa
Lấy gì đi sớm về trưa với tình?

Vì Tiền

Vì chưng chẳng có, hoá thân hèn,
Hổ với anh em, chúng bạn quen.
Thuở trước chơi bời còn quyến luyến,
Bây giờ đi lại dám mon men!
Giàu sang, âu yếm, tình quen thuộc,
Bần tiện, thờ ơ, dạ bạc đen.
Ví khiến trong tay tiền bạc có
Nói dơi nói chuột, chán người khen.

Mùa Nực Mặc Áo Bông

Bức sốt nhưng mình vẫn áo bông,
Tưởng rằng ốm dậy hoá ra không!
Một tuồng rách rưới con như bố,
Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng.
Đất biết bao giờ sang vận đỏ?
Trời làm cho bõ lúc chơi ngông!
Gần chùa gần cảnh ta tu quách,
Cửa Phật quanh năm sẵn áo sồng.

Tự Cười Mình

1.
Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành
Mắt thời thao láo, mặt thời xanh
Vuốt râu nịnh vợ, con bu nó
Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh
Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ
Rượu chè trai gái đủ tam khoanh
Thế mà vẫn nghĩ rằng ta giỏi
Cứ việc ăn chơi, chẳng học hành

2.
Lúc túng toan lên bán cả trời
Trời cười thằng bé nó hay chơi
Cho hay công nợ âu là thế
Mà vẫn phong lưu suốt cả đời
Tiền bạc phó cho con mụ kiếm
Ngựa xe chẳng thấy lúc nào ngơi
Còn dăm ba chữ nhồi trong bụng
Khéo khéo không mà nó cũng rơi

Thói Đời

Người bảo ông điên, ông chẳng điên,
Ông thương ông tiếc hoá ông phiền.
Kẻ yêu người ghét hay gì chữ,
Đứa trọng thằng khinh chỉ vị tiền.
Ở bể ngậm ngùi cơn tới lạch,
Được voi tấp tểnh lại đòi tiên.
Khi cười khi khóc khi than thở,
Muốn bỏ văn chương học võ biền!

Đất Vị Hoàng

Có đất nào như đất ấy không?
Phố phường tiếp giáp với bờ sông.
Nhà kia lỗi phép con khinh bố,
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng.
Keo cú người đâu như cứt sắt,
Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng.
Bắc Nam hỏi khắp người bao tỉnh,
Có đất nào như đất ấy không?

Năm Mới Chúc Nhau

Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu.
Phen này ông quyết đi buôn cối,
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc giàu:
Trăm, nghìn, vạn mớ để vào đâu?
Phen này, ắt hẳn gà ăn bạc,
Đồng rụng, đồng rơi, lọ phải cầu.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thì mua tước, đứa mua quan.
Phen này ông quyết đi buôn lọng,
Vừa bán vừa la cũng đắt hàng.

Lẳng lặng mà nghe nó chúc con:
Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn.
Phố phường chật hẹp, người đông đúc,
Bồng bế nhau lên nó ở non.

Bắt chước ai ta chúc mấy lời:
Chúc cho khắp hết ở trong đời.
Vua, quan, sĩ, thứ, người muôn nước,
Sao được cho ra cái giống người.

Than Thân

Kể đã ba mươi mấy tuổi rồi,
Tôi ngồi tôi nghĩ cái thằng tôi.
Mấy khoa hương thí không đâu cả,
Ba luống vườn hoang bán sạch rồi.
Gạo cứ lệ ăn đong bữa một,
Vợ quen dạ đẻ cách năm đôi.
Bắc thang lên hỏi ông trời nhẽ:
Treo ghẹo người ta thế nữa thôi?

Đừng bỏ qua tuyển tập🌿 Thơ Nguyễn Lãm Thắng 🌿Bên Cạnh Chùm Thơ Trần Tế Xương

Thơ Trữ Tình Của Tú Xương

Sưu tầm những bài thơ trữ tình hay nhất của Tú Xương, mời bạn đọc thưởng thức.

Áo Bông Che Bạn

Hỡi ai, ai có thương không?
Đêm mưa, một mảnh áo bông che đầu
Vì ai, ai có biết đâu?
Áo bông ai ướt khăn đầu ai khô?
Người đi Tam Đảo, Ngũ Hồ
Kẻ về khóc trúc Thương Ngô một mình
Non non nước nước tình tình
Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ!

Cái Nhớ

Cái nhớ hình dung nó thế nào?
Khiến người ngao ngán, ngẩn ngơ sao!
Biết nhau cho lắm thêm buồn nhé
Để khách bên trời dạ ước ao!

Cháu Khóc Cô Chồng

Người có cô, sao cháu không cô?
Nắng phơi nước mắt dễ hầu khô!
Xác xơ lông cánh con chim Việt
Nung nấu buồng gan cái ngựa Hồ
Phận gái lênh đênh nông bể ái
Nỗi nhà báo đáp chất sông Tô
Từ đây trăm sự ơn nhờ bác
Người có cô, sao cháu không cô?

Hỏi Mình

Trải mấy mươi năm vẫn thế ru?
Rằng khôn, rằng dại, lại rằng ngu?
Những là thương cả cho đời bạc,
Nào có căm đâu đến kẻ thù.
No ấm chưa qua vành mẹ đĩ,
Đỗ đành may khỏi tiếng cha cu.
Phen này có dễ trời xoay lại,
Thằng bé con con đã chán cù.

Nhớ Bạn Phương Trời

Ta nhớ người xa cách núi sông,
Người xa, xa lắm, nhớ ta không?
Sao đang vui vẻ ra buồn bã,
Vừa mới quen nhau đã lạ lùng.
Lúc nhớ nhớ cùng trong mộng tưởng,
Khi riêng riêng cả đến tình chung.
Tương tư lọ phải là mưa gió,
Một ngọn đèn xanh trống điểm thùng.

Viếng Bạn

Đêm qua trằn trọc không yên
Vắng người cùng bạn bút nghiên sao đành!
Ngựa xe là thói tỉnh thành
Nào người vui thú học hành là ai?
Nhớ khi thảo sách học bài
Tựa trong khóm trúc, dạo ngoài hồ sen
Ngậm ngùi dưới nguyệt trước đèn
Ta vui ai biết, ta phiền ai hay?
Của trời như nước như mây
Lũ ta như dại như ngây như khờ
Đi đâu một bước một chờ
Vắng nhau một khắc một giờ khôn khuây
Tháng năm Tết đến sau này
Cùng ai lên núi hái cây xương bồ?
Há rằng thiếu níp không bồ
Tri âm đã vắng, Bồng Hồ cũng thôi!
Qua năm hương hội đến rồi
Cùng ai vượt bể đến nơi kinh kỳ?
Dẫu cho vui thú Phụng Trì
Khi vui mà vắng cố tri thêm sầu
Bạn đàn chưa dễ tìm nhau
Bạn nghiên bạn bút có đâu được nhiều!

Khóc Em Gái

Mệnh sao bạc thế hỡi em ơi!
Hai bốn hai lăm cũng một đời
Bảng hổ vừa treo, cầu Thước bắc
Cành thoa đã rụng, phím đàn rơi
Cây tương tư héo, chồng rầu rĩ
Thuyền độ sinh đưa, Phật rước mời
Những muốn dựng bia toan kỷ niệm
Lòng anh thương xót, xiết bao nguôi!

Mưa Tháng Bảy

Sang tuần tháng bảy tiết mưa ngâu,
Nắng mãi thì mưa cũng phải lâu.
Vạc nọ cầm canh thay trống mõ,
Rồng kia phun nước tưới hoa mầu.
Ì ào tiếng học nghe không rõ,
Mát mẻ nhà ai ngủ hẳn lâu.
Ông lão nhà quê tang tảng dậy,
Bảo con mang đó chớ mang gầu.

Các Bài Thơ Về Vợ Của Tú Xương

Chia sẻ thêm cho bạn đọc các bài thơ về vợ của Tú Xương hay, ý nghĩa.

Thương Vợ

Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không!

Văn Tế Sống Vợ

Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ
Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ
Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo, ai dám chê rằng béo rằng lùn?
Người ung dung, tính hạnh khoan hoà, chỉ một nỗi hay gàn hay dở!
Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mười
Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ
Gần xa nô nức, lắm gái nhiều trai
Sớm tối khuyên răn, kẻ thầy người tớ
Ông tu tác cửa cao nhà rộng, toan để cho dâu
Anh lăm le bia đá bảng vàng, cho vang mặt vợ

Thế mà:
Mình bỏ mình đi, mình không chịu ở
Chẳng nói chẳng rằng, không than không thở.
Hay mình thấy tớ: nay Hàng Thao, mai phố Giấy mà bụng mình ghen?
Hay mình thấy tớ: sáng Tràng Lạc, tối Viễn Lai, mà lòng mình sợ?
Thôi thôi
Chết quách yên mồ
Sống càng nặng nợ
Chữ nhất phẩm ơn vua vinh tứ, ngày khác sẽ hay
Duyên trăm năm ông Nguyệt xe tơ, kiếp này đã lỡ
Mình đi tu cho thành tiên thành phật, để rong chơi Lãng Uyển, Bồng Hồ
Tớ nuôi con cho có rể có dâu, để trọn vẹn đạo chồng nghĩa vợ

Vợ Tế Chồng

Hỡi thương ơi!
Con thơ vợ dại, sống càng thương mà chết lại càng thương;
Cửa vắng nhà thanh, nghĩ cũng khổ mà nói ra cũng khổ.

Cầu trời cầu Phật, nào thiếu cầu đâu;
Tại thuốc tại thầy, hay là tại số.

Nhớ chàng xưa:
Cháu giống con dòng;
Người kim chất cổ.

Tự mười tám trăng màn bảo trẻ, chi hồ giả dã, chữ đủ làm thầy;
Tới bốn ba lều chiếu quan trường, tí ngọ mùi thân, thi sao chưa đỗ.

Trừ ông cử ông tú ông đò chi ngoại, phường ngựa xe điếu tráp ít chơi;
Lấy câu văn câu thơ câu phú làm vui, thú cờ bạc rượu chè chẳng mộ.

Cũng tưởng làm nên quan lớn, toan sự biển cờ cướp lấy, ông Từ ô cũng chốn anh em;
Nào ngờ già dễ văn hay, làm cho thợ tạo chết tươi, ông Tiền hải cũng trong môn hộ.

Tưởng sự cửa nhà;
Thêm tình quyến cố.

Như chú hai đã có em phụng dưỡng, thôi cũng yên lòng;
Nọ thím năm đang lập cửa thừa diên, nhưng chưa xong số.

Mẹ thiếp cũng già đà lẫn cẫn, phố là làng con là rể, ai kẻ trông nom;
Con chàng còn dại dại ngây ngây, thằng mười bốn đứa lên ba, ai vì dạy dỗ.

Gần đã đến mùng năm đoan ngọ, đào đào mận mận, cũng có của ngon vật lạ, chàng đà đi thiếp cũng chán chường;
Xa là tháng tám trung thu, ngựa ngựa voi voi, những là tán giấy đèn cù, cha chẳng ở con nào vui cỗ.

Thương ôi!
Bối rối lòng quê;
Vội vàng tục phố.

Lờ mờ đen tỏ một huê;
Xơ xác quyển vàng vài bộ.

Nghĩ đến họ đến hàng đến làng đến nước, thì trước cửa Diêm vương ngơ ngẩn, chắc chàng chưa ăn cháo tái sinh;
Nghĩ có trai có gái có rể có dâu, thì trên lầu Thị Kính thề nguyền, quyết thiếp chỉ ôm cầm một độ.

Xin giữ đủ ba năm một tiết, tuần tứ cửu ngày bách nhật, khi giỗ đầu lúc giỗ hết, dưới suối vàng ai hỡi xét xoi;
Gọi là một chén tam ngu, lá vàng giấy nén hương thơm, lưng cơm bạc bát canh suông, trên dương thế lấy gì báo bổ.

Hỡi ơi! Thượng hưởng!

Khóc Vợ Bạn

Quả núi Châu Phong mới bắc cầu
Thương anh về trước, chị về sau!
Tên đề bảng phấn ai không tiếc
Tiếng khóc non xanh vượn cũng sầu
Có mẹ tưởng là vui gượng lại
Không chồng hồ dễ sống chi lâu!
Bắc thang lên hỏi ông cầm sổ
Thăm thẳm mù xanh ngắt một màu

Để Vợ Chơi Nhăng

Thọ kia mày có biết hay chăng?
Con vợ mày kia, xiết nói năng!
Vợ đẹp, của người không giữ được,
Chồng ngu, mượn đứa để chơi nhăng.
Ra đường đáng giá người trinh thục
Trong dạ sao mà những gió trăng?
Mới biết hồng nhan là thế thế.
Trăm năm trăm tuổi lại trăm thằng!

Khám phá kho tàng ❤️️Thơ Phạm Hổ ❤️️Tuyển tập thơ thiếu nhi hay nhất

15 Bài Thơ Hay Nhất Của Trần Tế Xương

Cùng đọc và chiêm nghiệm 15 bài thơ hay nhất của Trần Tế Xương được Thohay.vn tổng hợp dưới đây nhé!

Sông Lấp

Sông kia rày đã nên đồng,
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai.
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai,
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.

Nghèo Mà Vui

Kể suốt thế đố ai bằng anh Mán,
Trải mùi đời, khôn chán giả làm ngây.
Hổ sinh ra lúc thời này,
An thân mệnh thế, giấu tay anh hùng.
Không danh cho dễ vẫy vùng,
Mình không phú quí, mắt không vương hầu.
Khi để chỏm, lúc cạo đầu,
Nghêu ngao câu hát nửa tàu nửa ta.
Không đội nón, chịu màu da dãi nắng,
Chẳng nhuộm răng, để trắng để cười đời.
Chốn quyền môn luồn cúi mặc ai ai,
Ngoài cương toả thảnh thơi ai đã biết?
Chỉ ấm ớ giả câm giả điếc,
Cứ vui tràn khi hát khi ngâm.
Trên đời mấy mặt tri âm!

Thăm Bạn Nghèo

Khách hỏi nhà ông đến
Nhà ông đã bán rồi
Vợ lăm le ở vú
Con tấp tểnh đi bồi
Anh trói voi bỏ rọ
Đời nào lợn cạo ngôi
Người bảo ông cũng mãi
Ông cũng thế này thôi

Ba Cái Lăng Nhăng

Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được cái gì hay cái nấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà!

Vợ Chồng Ngâu

Tục truyền tháng bảy mưa Ngâu,
Con trời lấy chú chăn trâu cũng phiền.
Một là duyên, hai thời là nợ,
Sợi xích thằng ai gỡ cho ra?
Vụng về cũng thể cung nga,
Trăm khôn nghìn khéo chẳng qua mục đồng.
Hay là sợ muộn chồng chăng tá?
Hơi đâu mà kén cá chọn canh!
Lấy ai, ai lấy cũng đành,
Rể trời đâu cả đến anh áo buồm.

Tự Đắc

Ta nghĩ như ta có dại gì
Ai chơi, chơi với, chẳng cần chi
Kìa thơ tri kỷ đàn anh nhất
Nọ phách phong lưu bậc thứ nhì
Ăn mặc vẫn ra người thiệp thế
Giang hồ cho biết bạn tương tri
Gặp thời gặp vận nên bay nhảy
Cho thoả rằng sinh chẳng lỗi thì

Gửi cho bạn các thông tin về 🔰Thơ Nguyễn Công Trứ 🔰 Tác Giả, Tác Phẩm

Cảm Hoài

Thua bạc nhà đi với mẹ nhà,
Bệnh gì chẳng bệnh, bệnh tim la!
Nay đi phố Giấy, mai đầu hát,
Khi ở sông Thương, lúc tỉnh Hà.
Đeo tiếng khoa danh cho thế mỉa,
Cực lòng cha mẹ để con ra!
Nam mô cứu khổ tiêu tai nạn
Nhờ lượng Quan Âm, đức Phật Bà!

Chiêm Bao

Bỗng thấy chiêm bao thấy những người
Thấy người nói nói lại cười cười
Tỉnh ra lại tiếc người trong mộng
Mộng thế thì bằng tỉnh mấy mươi

Dại Khôn

Thế sự đua nhau nói dại khôn,
Biết ai là dại, biết ai khôn.
Khôn nghề cờ bạc là khôn dại,
Dại chốn vẵn chương, ấy dại khôn.
Này kẻ nên khôn đều có dại,
Làm người có dại mới nên khôn.
Cái khôn ai cũng khôn là thế,
Mới biết trần gian kẻ dại khôn.

Đi Thi Nói Ngông

Ông trông lên bảng thấy tên ông
Ông nốc rượu vào, ông nói ngông
Trên bảng, năm hai thầy cử đội
Bốn kỳ, mười bảy cái ưu thông
Xướng danh tên gọi trên mình tượng
Ăn yến xem ra có thịt công
Cụ xứ có cô con gái đẹp
Lăm le xui bố cưới làm chồng!

Đánh Tổ Tôm

Bực chẳng nhẽ anh hùng khi vị ngộ,
Như lúc đen chơi cuộc tổ tôm,
Bài chạm thành cuối cánh phỗng ầm ầm,
Ngồi thôi chẳng bốc quân rác rảnh.
Cũng có lúc thông chi thì bát sách,
Cũng có khi bạch định bốc yêu hồng;
Cất bài lên ông lão vẫn lẩn vòng,
Không đâu cả gặp kề năm bảy phỗng.
Cũng có ván tôm lèo lên chờ rộng,
Vớ phải thằng bạch thủ phỗng tay trên.
Gớm ghê thay đen thực là đen!
Sắc như mác cũng thua thằng vận đỏ.
May mắn nhẽ hữu duyên năng tái ngộ,
Bĩ cực rồi đến độ thái lai;
Tiếng tam khôi chi để nhường ai,
Hết bạch lại hồng, thông mãi mãi.
Nào những kẻ tay trên ban nãy,
Đến bây giờ thay thẩy dưới tay ta;
Tiếng bài cao lừng lẫy khắp gần xa,
Bát vạn ấy người ta ai dám đọ.
Thế mới biết tổ tôm có đen thì có đỏ.
Thì anh hùng vị ngộ có lo chi.
Trước sau, sau trước làm gì?

Bỡn Tri Phủ Xuân Trường

Tri phủ Xuân Trường được mấy niên
Nhờ trời hạt ấy cũng bình yên.
Chữ “thôi” chữ “cứu” không phê đến,
Ông chỉ quen phê một chữ “tiền”!

Bợm Già

Thầy thầy tớ tớ, phố xênh xang,
Thoạt nhác trông ra ngỡ cóc vàng.
Kiện hết sở Tuần, vô sở Sứ
Khi thì thầy số, lúc thầy lang.
Công nợ bớp bơ hình chúa Chổm,
Phong lưu đài các giống ông hoàng.
Phong lưu như thế phong lưu mãi,
Điếu ống, xe dài độ mấy gang?

Đọc thêm 🌿Thơ Phạm Tiến Duật 🌿Tác Giả, Tác Phẩm + Tuyển Tập Thơ

Gái Buôn (I)

Nước buôn như chị mới ăn người,
Chị thấy ai đâu chị cũng cười.
Chiều khách quá hơn nhà thổ ế,
Đắt hàng như thể mớ tôm tươi.
Tiền hàng kẻ thiếu, mi thường đủ,
Giá gạo đầu năm, đấy vẫn mười.
Thả quít nhiều anh mong mắm ngấu,
Lên rừng mà hỏi chú đười ươi.

Lấy Lẽ

Cha kiếp sinh ra phận má hồng!
Khéo thay một nỗi lấy chung chồng.
Mười đêm chị giữ mười đêm cả,
Suốt tháng em nằm suốt tháng không.
Hầu hạ đã cam phần cát luỹ,
Nhặt khoan còn ỏm tiếng Hà Đông.
Ai về nhắn bảo đàn em nhé,
Có ế thì tu, chớ chớ chung!

Tìm hiểu chi tiết 🌿Thơ Nguyễn Duy 🌿Ngoài Các Bài Thơ Của Trần Tế Xương

Viết một bình luận