Tự Trào của Nguyễn Khuyến: Nội Dung Bài Thơ, Đọc Hiểu, Phân Tích

Tự Trào [Nguyễn Khuyến] ❤️️ Nội Dung Bài Thơ, Đọc Hiểu, Phân Tích ✅ Tìm Hiểu Về Hoàn Cảnh, Thời Gian Sáng Tác, Ý Nghĩa Tác Phẩm.

Tự Trào Là Gì

Tự trào là gì? Tự trào có nghĩa là tự cười mình hay tự kể lại câu chuyện tiếu lâm, hài hước để châm biếm mình một cách vui vẻ. Điển hình như nhà nho Nguyễn Khuyến đem “cái tôi” mình ra để tự chế giễu, tự chê trách cũng là cách trào phúng cả một tầng lớp xã hội lúc bấy giờ. 

Bề ngoài câu chữ là tự cười mình, tự dè bỉu, trách cứ mình bất tài vô dụng, nhưng nhìn sâu vào bên trong mới thấy đó là một bản lĩnh, một sự tự ý thức giá trị bản thân. Vì cười mình là để nhạo đời. Thế nên mới nói phủ định cũng là một cách khẳng định!

Đọc thêm tác phẩm 🔰Chợ Đồng [Nguyễn Khuyến]🔰 Nội Dung Bài Thơ, Phân Tích

Nội Dung Bài Thơ Tự Trào Của Nguyễn Khuyến

Nói đến Nguyễn Khuyến là nói đến thơ trào phúng, trong đó có tác phẩm Tự trào. Dưới đây là nội dung bài thơ.

Tự trào
Tác giả: Nguyễn Khuyến

Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang,
Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng.
Cờ đương dở cuộc không còn nước,
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng.
Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang.
Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ,
Mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng.

Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Tự Trào

Về hoàn cảnh sáng tác bài thơ Tự trào, đây là một trong số các bài thơ được Nguyễn Khuyến viết trong thời gian cáo quan về ở ẩn.

Là người học rộng tài cao nhưng trước thực cảnh đất nước bị xâm lăng, ông cũng đành bất lực, phải lui về ở ẩn để tránh nhìn cảnh đau xót. Thời gian này ông tự nhìn lại cuộc đời mình và viết nên bài thơ Tự trào.

Đọc hiểu tác phẩm ➡️Thu Vịnh [Nguyễn Khuyến]⬅️ Nội Dung, Phân Tích

Ý Nghĩa Bài Thơ Tự Trào

Bài thơ Tự trào của Nguyễn Khuyến nhìn thoạt qua là tiếng cười cho bản thân, tự cười mình nhưng thực ra đằng sau đó là tiếng nói châm biếm, đả kích xã hội lúc bấy giờ bởi cười mình cũng chính là nhạo đời.

Bài Thơ Tự Trào Gieo Vần Gì

Bài thơ Tự trào của Nguyễn Khuyến gieo vần gì? Nhìn vào bài thơ ta có thể nhận thấy bài thơ được gieo vần chân – “ang”. Vị trí gieo vần “ang” trong bài là ở các câu thơ 1,2,4,6,8.

Hướng dẫn đọc hiểu 💚 Thu Ẩm [Nguyễn Khuyến] 💚 Chi tiết

Đọc Hiểu Bài Thơ Tự Trào

Đừng nên bỏ qua các gợi ý đọc hiểu bài thơ Tự trào mà Thohay.vn chia sẻ sau đây.

👉 Câu 1: Xác định thể thơ của văn bản trên:

A. Thất ngôn bát cú Đường luật

B. Tự do

C. Thất ngôn tứ tuyệt Đường luật

D. Bảy chữ

👉 Câu 2: Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên:

A. Tự sự

B. Biểu cảm

C. Nghị luận

D. Miêu tả

👉 Câu 3: Trong 2 câu thơ đầu, tác giả đã tự viết về mình như thế nào?

A. Chẳng giàu, chẳng sang;

B. Chẳng gầy, chẳng béo

C. Làng nhàng

D. Chẳng giàu, chẳng sang, chẳng gầy, chẳng béo, làng nhàng

👉 Câu 4: Bài thơ trên gieo vần gì, ở những vị trí nào?

A. Vần “ang”, vần “ươc”, vần “ach”, vần “i” ở cuối tất cả các câu

B. Vần “ang” ở cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8

C. Vần “ang” ở các tiếng: sang, làng nhàng,làng,thang, bảng vàng

D. Vần “ang” ở hai câu đầu.

👉 Câu 5: Biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong hai câu thơ sau là gì? Tác dụng:

Cờ đương dở cuộc không còn nước
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng

A. Phép đối và phép ẩn dụ, tạo sự đăng đối, tạo tính nhạc cho câu thơ; nhấn mạnh tình thế dở dang của đất nước và lựa chọn bất đắc dĩ của tác giả.

B. Phép ẩn dụ, nhấn mạnh tình trạng gieo neo của đất nước.

C. Phép hoán dụ, nhấn mạnh hành động hèn nhát của tác giả.

D. Phép so sánh, làm cho câu thơ gợi hình, biểu cảm.

👉 Câu 6: Nhan đề của bài thơ được hiểu là:

A. Tự mỉa mai chính mình

B. Tự phê phán chính mình

C. Tự cười mình

D. Tự thương cho mình.

👉 Câu 7. Hành động “chạy làng” trong câu Bạc chửa thâu canh đã chạy làng được hiểu như thế nào:

A. Bỏ chạy trước sự truy sát của giặc

B. Rời bỏ làng quê đi di cư

C. Cáo quan về ở ẩn tại quê nhà

D. Chạy theo dân làng đi lánh nạn.

Trả lời câu hỏi:

👉 Câu 8. Nhận xét về giọng điệu của bài thơ.

Đáp án: Giọng điệu của bài thơ: Vừa trào phúng, vừa trữ tình

  • Trào phúng: Tự cười mình là kẻ không có gì đặc biệt, chỉ làng nhàng, cười về quyết định cáo quan về ở ẩn (tác giả gọi một cách hài hước là việc chạy làng), cười về tính gàn dở, có phần nhu nhược mà cũng được ghi danh ở bia xanh, bảng vàng..
  • Trữ tình: Chất trữ tình sâu lắng của bài thơ ẩn sau những câu chữ tưởng bông đùa, tếu táo mà chất chứa tâm sự buồn đau về sự dở dang của thời cuộc, nỗi day dứt, băn khoăn vì bản thân chưa làm tròn trách nhiệm với đất nước, nhân dân.

👉 Câu 9. Anh/ chị hiểu gì về tâm tư của nhà thơ qua 2 câu thơ sau, viết đoạn văn từ 5-7 câu trình bày suy nghĩ đó.

Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ,
Mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng.

Đáp án: Học sinh viết thành đoạn văn, đảm bảo được một số ý:

  • Ông tự chế giễu, chê trách mình: Được bia xanh, bảng vàng nhưng lại chẳng làm được gì xứng đáng với điều ấy mà lại sống như một kẻ say, một kẻ gàn dở.
  • Qua sự tự giễu đó, ta còn thấy được sự day dứt, bi kịch tâm hồn của ông giữa một bên muốn từ quan để giữ lấy sự trong sạch với một bên là nghĩa vụ, trách nhiệm với vua, với nước, với dân.
  • Tình yêu nước, thương dân thầm kín của Nguyễn Khuyến.

👉 Câu 10. Anh/ chị có đồng tình với lựa chọn của nhà thơ: Chưa trọn cuộc đời làm quan đã bỏ về quê ở ẩn hay không? Viết đoạn văn 5-7 câu lí giải quan điểm của anh/chị.

Đáp án: Em đồng tình với sự lựa chọn của tác giả: Vì thời buổi nhiễu nhương, muốn giữ được nhân cách, Nguyễn Khuyến phải cáo quan về ở ẩn. Một mực ở lại có thể sẽ bị tha hóa, bị thực dân Pháp mua chuộc, hoặc bị cô lập..

(Nếu không đồng tình có thể lí giải: Đã làm quan, hưởng ơn vua lộc nước thì dù có như thế nào cũng phải mang tài sức ra giúp vua bảo vệ đất nước; việc cáo quan về ở ẩn chỉ là một cách trốn tránh trách nhiệm của kẻ sĩ).

Gợi ý phân tích bài 🎊Bạn Đến Chơi Nhà🎊 Chi tiết nhất

Nghệ Thuật Bài Thơ Tự Trào

Tìm hiểu về các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài thơ Tự trào.

  • Bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, cấu trúc Đề – thực – luận – kết.
  • Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật.
  • Bài thơ gieo vần chân – vần “ang” khá nhiều.
  • Ngôn ngữ thơ đặc sắc nhằm bộc bạch tâm trạng và châm biếm xã hội.

Xem thêm bài thơ🌱 Câu Cá Mùa Thu🌱Nội Dung, Nghệ Thuật 

Mẫu Phân Tích Bài Thơ Tự Trào Của Nguyễn Khuyến Hay Nhất

Đón đọc mẫu văn phân tích bài thơ Tự trào của Nguyễn Khuyến hay nhất vừa được Thohay.vn sưu tầm sau đây.

Nhìn vào thế giới mỹ học tiếng cười Việt Nam thì hầu như nhà trào phúng lớn nào cũng tự trào, lấy mình ra làm đối tượng để mà tự chế giễu, tự mỉa mai mình. Trong đó Nguyễn Khuyến “tự trào” nhiều nhất, cũng đa dạng sắc thái nhất, chiếm khoảng hơn 30% tổng số tác phẩm của ông. Tiếng cười trẻ trung, lạc quan, trong sáng có từ thời trẻ và sau này là hóm hỉnh, tinh quái thấm đậm vào trong từng cái nhìn, từng ý, từng chữ.

Có một giọng cười như ngang ngạnh, gàn dở, say mèm: “Ta cũng chẳng giàu, cũng chẳng sang/ Chẳng gầy, chẳng béo, chỉ làng nhàng/ Mở miệng nói ra gàn bát sách/ Mềm môi chén mãi tít cung thang…” . Một loạt những hình ảnh tự họa như rất xa lạ để làm hiện ra một con người bi kịch. Bi kịch muốn từ quan để giữ lấy sự trong sạch nhưng bị giằng xé với “ân vua”, muốn phục vụ vua. 

Cờ đương dở cuộc không còn nước,
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng.

Cười mình là kẻ “chạy làng” vô trách nhiệm trước thời cuộc cũng là tự giễu cợt sự bất lực của bản thân. Trong khi người đời lo lắng thì mình lại vô tâm, chẳng giúp gì đời, cũng chẳng làm gì hại đời. Thế nên có lúc thấy mình vô tích sự, là “người thừa”. Đấy là tiền đề cho tiếng cười tự mình mỉa mai mình!

Tiếng cười thêm chua xót, ngậm ngùi hơn. Có một sự chơi chữ thâm thúy: “Cờ đang dở cuộc không còn nước”. Vì “không còn nước” tức ván cờ hết nước đi, cũng là chuyện mất nước nên vua cũng không còn thực nữa, chỉ là vua hề, chỉ là quan phường chèo thôi: “Vua chèo còn chẳng ra gì/ Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề”!

Không làm gì được cho dân, cho nước nên mới hổ đất thẹn trời. Tấm lòng ấy đáng được cảm thông, kính trọng. Khác với việc tự khẳng định mình trước đây, bây giờ Nguyễn Khuyến giễu cợt mình một cách chua chát. Mà xét kỹ phê phán, phủ định cũng chính là để khẳng định một chân lí nào đó.

Nhà nho Nguyễn Khuyến đem “cái tôi” mình ra để tự chế giễu, tự chê trách cũng là cách trào phúng cả một tầng lớp đại diện nền học vấn đã hết thời. Danh vị tiến sĩ nay đã trở thành trò hề, trở thành thứ đồ chơi để “dứ thằng cu”, mà mỗi lần nhìn thấy thứ hình nộm ông Tiến sĩ là đồ chơi của trẻ, Nguyễn Khuyến lại tự bỡn cợt: “Nghĩ mình cũng gớm cho mình nhỉ/ Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng”.

Bên ngoài lời nói là cười nhạo bản thân, tự ti, tự trách mình kém cỏi nhưng nhìn sâu vào bên trong mới thấy đó là bản lĩnh, là sự tự ý thức về giá trị của bản thân. Vì cười mình là giễu đời. Vậy phủ định cũng là khẳng định!

Bên trong con người Nguyễn Khuyến là sự khủng hoảng về lý tưởng của một bậc đại khoa đọc sách thánh hiền cùng cái tài học hăm hở giúp nước bỗng trở nên vô nghĩa, không đủ tài năng và bản lĩnh để ứng xử trong một tình thế hoàn toàn mới – một hoàn cảnh xã hội phong kiến nửa thực dân lố lăng. Tất yếu dẫn đến những bi kịch giằng xé. 

Bi kịch bị đẩy lên cao khi nhà thơ thất vọng sâu sắc trước một thực tế quá xa so với nhận thức giáo điều trước đó. Triều đình nhà Nguyễn hèn nhát, ký Hiệp ước hàng giặc Pháp. Ở chốn quan trường bao cảnh ngang tai trái mắt, vua không ra vua, tôi không ra tôi, xã hội biến động, đổi trắng thay đen, không đành lòng làm quan, ông quyết tâm rũ bỏ “bụi đời” trở về với Yên Đổ (1883). 

Thực sự đau đớn khi nhận thấy học vấn của mình không đem lại lợi ích gì cho nước nhà, ông theo con đường mà người xưa đã chọn – ở ẩn, tắm mình vào thiên nhiên, gửi hồn mình vào chốn làng quê. 

Nhưng sự day dứt “quân thần phụ tử” không thể dứt hẳn, vẫn phải trực tiếp hay gián tiếp chứng kiến sự đảo lộn ghê gớm ngoài xã hội… nên nhà trào phúng dùng tiếng cười, vừa để gửi gắm tâm trạng, vừa để cười mình, cười đời.

Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang.

Hình tượng một ông lão già như đang trong cơn say ngật ngưỡng. Điều này chứng tỏ ông chỉ mượn rượu chứ không hám rượu, càng không phải say rượu. Rượu là phương tiện để trốn đời, lánh đời, đời đáng chán thì chưa muốn “chừa”, vì có chừa được thì càng đáng buồn hơn!

Tiếng cười tự trào Nguyễn Khuyến có đặc điểm cái bi lấn át, trội hơn cái hài. Điều đó xuất phát bởi chính cuộc đời ông và thời cuộc nhiễu nhương bấy giờ. Nhìn chung “Tự trào” là một bài thơ hay, thâm thúy, là tiếng nói châm biếm, trào phúng của Nguyễn Khuyến để người đời sau hiểu hơn về lý do lui về ở ẩn của ông.

💢 Xem thêm những bài thơ hay của cụ Nguyễn Khuyến:

Viết một bình luận